Đám cưới của người Cao Lan ở Đèo Gia

Đám cưới của người Cao Lan ở Đèo Gia
Các nghi lễ trong đám cưới của người Cao Lan

Lễ đặt trầu: Nhà có con trai lớn đến tuổi trưởng thành bố mẹ nói rõ với con trai ý định tìm dâu. Nếu người con trai đồng ý gia đình chuẩn bị 4 bìa đậu, 1 lít rượu, 8 quả cau, 8 lá trầu, nhờ chú hoặc bác của chàng trai sang nhà gái gọi là lễ đặt trầu (pốt slam lưu). Đến nhà gái, lễ được đặt vào 4 chiếc bát ăn cơm thật sạch (đại diện cho hai bên họ nội, họ ngoại) mỗi chiếc bát để 2 quả cau, 2 lá trầu rồi đặt lên bàn thờ. Sau từ 3 đến 5 ngày, nhà gái không mang trả lại trầu cau có nghĩa là đồng ý.

Lễ dạm ngõ: Nhà trai cử bác hoặc chú mang sang nhà gái 4 quả cau đặt vào hai bát con sạch để lên bàn thờ. Sau 7 ngày, nhà gái không trả lại cau là mọi việc tốt đẹp. Tiếng Cao Lan gọi bước này là “hiền sờn tềnh”.

Lễ đặt gánh - ăn hỏi: Lễ đặt gánh - ăn hỏi (pôi tềnh lìu): Nhà trai chuẩn bị một lễ gồm 42-46 cái bánh dầy (thường là bánh chay), hai con gà thiến thật đẹp, 4 lít rượu, ít tiền mặt, 8 quả cau, 8 lá trầu. Tìm được ngày tốt, nhà trai cử người mang lễ sang nhà gái, xin lá số của cô gái về nhờ thày xem. Cơm xong, gia đình cô gái viết tên tuổi ngày giờ sinh của cô gái vào một tờ giấy rồi đưa cho nhà trai. Sau lễ đặt gánh, nhà trai tổ chức xem ngày, chọn mối và chuẩn bị những thứ mà nhà gái yêu cầu: tất cả những thứ nhà gái thách cưới được ghi vào một tờ giấy.
 
Lễ đặt gánh - ăn hỏi của người Cao Lan.
Lễ đặt gánh - ăn hỏi của người Cao Lan.
Người Cao Lan chọn mối (mòi) khá cẩn thận bởi vai trò của ông mối rất quan trọng trong suốt quá trình diễn ra việc cưới- ông mối sẽ được đôi vợ chồng trẻ coi như cha đẻ.

Báo ngày cưới: Chọn được mối, xem được tuổi của cô gái rồi, nhà trai sẽ sang nhà gái thông báo ngày cưới cụ thể. Bước này do ông mối đi cùng một người bên họ nhà trai mang theo một lễ gồm 1 con gà, 12 cái bánh dày, một lít rượu, 40 quả cau, 100 lá trầu để nhà gái đi báo cho bà con làng xóm biết.

Lễ cưới: Trước đây trong dân tộc Cao Lan, nhà gái cưới hôm trước nhà trai cưới hôm sau. Bao giờ cũng vậy, nhà trai đi đón dâu từ chiều hôm trước và sẽ ngủ lại nhà gái một đêm. Đoàn đón dâu của nhà trai gồm: ông mối (ông mòi), một người đưa đường khoảng 30-40 tuổi, giỏi ca hát (thường là chú của chàng trai) gọi là tằu pu, một người gánh lễ (tạm pu), em gái của chú rể (chíp mâu), chú rể (lậc cừi mộ), phù rể (pờn lậc cừi mộ). Trong đám cưới người Cao Lan, khi đi đón dâu bao giờ cũng phải mang theo đôi bánh dày dán giấy đỏ, có ngôi sao năm cánh gọi là ẹt sầy (mỗi chiếc bánh khoảng 2kg gạo nếp).

Đoàn đón dâu đến nhà gái, ông chú hoặc ông cậu cô dâu lấy ra một cái ghế đặt ở cửa. Trên ghế để một bộ ấm chén (4 chén), một xuyến nước pha sẵn. Sau khi nhà gái rót nước mời tằu pu lấy một cái bát đựng hai quả cau xin phép được vào nhà.

Hát sình ca trong đám cưới của người Cao Lan

Đám cưới của người Cao Lan bao giờ cũng có hát sình ca. Khi đoàn đón dâu của nhà trai đến cửa, muốn vào nhà phải biết hát. Nhà gái cho hai cháu gái nhỏ cầm hai dây vải, một dây xanh, một dây đỏ đứng căng dây ở bậc thang lên nhà. Bao giờ nhà gái cũng hát trước khoảng 4 bài nội dung chào hỏi, sau đó nhà trai hát trả lời (thường là tàu pu- người dẫn đường hát).

Cuộc hát kéo dài 1-2 giờ đồng hồ nhà gái mới để nhà trai vào nhà. Riêng em gái chú rể (chíp mâu) được đưa vào buồng cô dâu. Nhà gái đặt một cái sàng trên để 4 cái bát (đại diện cho hai họ nội ngoại) trong đó có một cái bát đựng tờ giấy ghi rõ ngày giờ cô dâu ra cửa, giờ cô dâu vào nhà chồng… để lên bàn thờ báo cáo và xin phép tổ tiên. Sau đó, mọi người uống rượu, ăn cơm. Khoảng 8-9 giờ tối thì cuộc hát bắt đầu cho tới sáng. Nội dung các bài hát là mời chào, chúc mừng.

Khoảng 5 giờ sáng nhà trai hát tiếp hai bài cuối để xin phép ông chú, ông cậu cô dâu cho cô dâu về nhà chồng. Lúc ấy mọi người lần lượt ra sân, nam giới ra trước đứng xếp hàng ở ngoài. Một lúc sau “chíp mâu” cùng “lìu mộ”- cô dâu và “nợ ơ”- bạn dâu đi ra đứng đối với nam giới. Cô dâu được bà bá hoặc bà dì mặc trang phục dân tộc cho. Ông mối làm phép đi vòng tròn quanh đoàn đón dâu một lượt rồi giơ ngang chiếc gậy “mọi tậu”. Tất cả những người đi đưa dâu đều phải chui qua chiếc gậy ấy. Đi qua sông suối, ông mối lấy gậy làm phép dọn đường cho cô dâu qua. Cô dâu vứt xuống một miếng trầu xin phép thần sông, thần suối.
 
Hát sình ca trong đám cưới của người Cao Lan.
Hát sình ca trong đám cưới của người Cao Lan.

Đến nhà trai, ông mối đánh tiếng rằng: chúng tôi đã đón cháu dâu về đây rồi, ông cậu (ông chú, ông bác) xin phép ma cho chúng tôi vào nhà. Lúc ấy ông cậu của chú rể đánh tiếng trả lời: Vậy thì vào thôi. Thế là tất cả vào nhà. Cô dâu được đưa ngay vào buồng và ít được ra ngoài để tỏ sự lễ phép, dịu dàng và gia giáo. Lúc ấy, nhà trai đã chuẩn bị sẵn một lễ gồm: một đôi gà nhỏ, một sỏ lợn, một con gà to. Trong nhà trai, hai đời có bao nhiêu người mất thì phải đặt bấy nhiêu bát cơm lên bàn thờ. Ông chú (hoặc ông cậu biết cúng) làm lễ nhập chủ mới trong đó nói rõ cô dâu tên gì, tuổi bao nhiêu, là thứ mấy trong gia đình, thuộc họ gì…

Nhà trai chuẩn bị một cái sàng, trên sàng có hai chén rượu, trong hai chén rượu có hai cái nhẫn, hai chiếc đĩa trên để miếng gan lợn và ít tiền mặt. Ông mối làm phép xong thì “chíp mâu” bưng vào trong buồng cô dâu rồi trao chiếc nhẫn trong chén rượu bên tay phải cho cô dâu, chiếc nhẫn trong chén rượu bên trái cho chú rể, hai người ăn hai miếng gan lợn tỏ ý hạnh phúc bên nhau suốt đời.

Chiều đến, họ nhà gái gồm ông chú, ông cậu, bác và bạn cô dâu khoảng 6-8 người gọi là “Thsộng săn” lại sang bên nhà trai. Nhà trai mời cơm họ và lại tiếp tục cuộc hát từ 8-9 giờ tối cho tới sáng. Sáng hôm sau, cô dâu lấy hai cái bát đựng đôi cau, hai lá trầu xin phép về lại mặt. Khoảng một, hai ngày sau, nhà trai lại gói 12 bánh nếp mang sang nhà gái đón dâu về.Phong tục cưới xin của người Cao Lan ở Đèo Gia, Lục Ngạn là một phong tục đẹp mang đậm bản sắc văn hóa tộc người.
Theo langvietonline.vn

Có thể bạn quan tâm

Lễ ăn mừng đầu lúa mới của đồng bào Raglai

Lễ ăn mừng đầu lúa mới của đồng bào Raglai

Đồng bào Raglai sở hữu một kho tàng tri thức dân gian đồ sộ, từ sử thi, truyện cổ, dân ca đến luật tục… Không chỉ vậy, đồng bào còn lưu giữ nhiều lễ hội dân gian đặc sắc như Lễ ăn mừng đầu lúa mới, lễ bỏ mả, các nghi lễ vòng đời… Trong đó lễ ăn mừng đầu lúa mới đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, khẳng định gái trị văn hóa sâu sắc và vai trò quan trọng trong đời sống, tinh thần của cộng đồng người Ragalai.

Món cà đắng lòng gà bọc lá chuối của người Jrai

Món cà đắng lòng gà bọc lá chuối của người Jrai

Ẩm thực của người Jrai ở Gia Lai luôn độc đáo với những món ăn ngon, dân dã, đậm nét truyền thống. Trong số đó, món cà đắng lòng gà bọc lá chuối nổi bật như một biểu tượng của sự sáng tạo và gắn kết với thiên nhiên.

Vui Tết rừng với đồng bào Mông Nà Hẩu

Vui Tết rừng với đồng bào Mông Nà Hẩu

Đến hẹn lại lên, cứ vào ngày cuối cùng của tháng Giêng hằng năm, đồng bào dân tộc Mông ở xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên (Yên Bái) nô nức hội tụ tại các điểm trung tâm bản để tổ chức Lễ Cúng rừng hay còn gọi Tết rừng.

Gìn giữ món bánh bạc đầu truyền thống của người Sán Dìu

Gìn giữ món bánh bạc đầu truyền thống của người Sán Dìu

Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu tại Quảng Ninh sở hữu những đặc trưng riêng, thể hiện sự khéo léo, tinh tế trong chế biến, phối hợp các thực phẩm. Một trong những món ăn đặc sắc đó là bánh bạc đầu đã trở thành đặc sản nổi tiếng. Thưởng thức các món bánh thơm ngon và tìm hiểu về văn hóa độc đáo của người Sán Dìu ở vùng cao Quảng Ninh là trải nghiệm đáng nhớ.

Tái hiện lễ Khai hạ của đồng bào dân tộc Mường

Tái hiện lễ Khai hạ của đồng bào dân tộc Mường

Nằm trong khuôn khổ các hoạt động của ngày hội " Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc" xuân Ất Tỵ 2025, tại làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), đồng bào dân tộc Mường đến từ tỉnh Hòa Bình đã tổ chức tái hiện lễ hội Khai hạ đặc sắc.

Nghi thức lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông của đồng bào dân tộc Thái

Nghi thức lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông của đồng bào dân tộc Thái

Nằm trong khuôn khổ các hoạt động của ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” xuân Ất Tỵ 2025, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) bà con đồng bào dân tộc Thái đến từ huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức tái hiện trích đoạn nghi thức lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông (Kin Chiêng Boọc Mạy) đặc sắc.

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp trang phục truyền thống của người Dao Thanh Y

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp trang phục truyền thống của người Dao Thanh Y

Người Dao Thanh Y sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhiều năm qua vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa riêng thông qua phong tục, tập quán hay nếp sinh hoạt hằng ngày và đặc sắc trong đó có bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Thanh Y là một di sản văn hóa độc đáo, mang đậm nét đặc trưng.

Lễ cúng rừng của người Mông nơi đại ngàn xanh Nà Hẩu

Lễ cúng rừng của người Mông nơi đại ngàn xanh Nà Hẩu

Đối với đồng bào dân tộc Mông ở xã Nà Hẩu (huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái), lễ cúng rừng hay còn gọi Tết rừng có từ khi tổ tiên di cư đến nơi đây lập làng, lập bản và trở thành bản sắc văn hóa, tín ngưỡng dân gian độc đáo riêng có.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

Ngày 5/2 (tức mùng 8 Tết Ất Tỵ), tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc (Hòa Bình) diễn ra Lễ hội Khai hạ dân tộc Mường năm 2025. Đây là lễ hội dân gian truyền thống lớn nhất của dân tộc Mường, đồng thời trở thành nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng không thể thiếu trong dịp Tết đến, Xuân về của người Mường ở Hòa Bình. Lễ hội thu hút hàng nghìn người dân, du khách trong và ngoài tỉnh đến tham gia.

Gìn giữ nghề dệt thổ cẩm trang phục dân tộc Thái ở Điện Biên

Gìn giữ nghề dệt thổ cẩm trang phục dân tộc Thái ở Điện Biên

Cộng đồng người Thái là một trong ba dân tộc chiếm phần lớn dân số của tỉnh Điện Biên. Nghề dệt thổ cẩm trang phục truyền thống của dân tộc Thái dù đã từng đối mặt với nguy cơ mai một nhưng hiện vẫn được gìn giữ. Những nghệ nhân lớn tuổi vẫn bền bỉ truyền nghề cho thế hệ trẻ từng họa tiết, hoa văn đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Hội làng mừng Gươl mới của đồng bào Cơ-tu thôn Aró. Ảnh: Khánh Nguyên

Người Cơ-tu vui hội mừng Gươl mới

Với đồng bào Cơ-tu ở thôn Aró, xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam), Gươl là không gian sinh hoạt chung, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh. Để chào mừng công trình trọng đại này, đồng bào Cơ-tu thường tổ chức lễ mừng Gươl mới, góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa cộng đồng.

Lễ sum họp của người M’nông

Lễ sum họp của người M’nông

Cứ từ 3 đến 5 năm, trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3, khi mùa màng thu hoạch xong, đồng bào M’nông ở tỉnh Đắk Nông lại tổ chức lễ sum họp nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Gìn giữ nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm của người Dao Thanh Y

Gìn giữ nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm của người Dao Thanh Y

Nếu như người đàn ông đóng vai trụ cột trong đời sống của người Dao Thanh Y thì phụ nữ ở dân tộc này lại nắm giữ những giá trị không thể thay thế, là người nuôi dưỡng phát huy nguồn văn hóa truyền thống trong mỗi gia đình và rộng hơn là bản sắc của cả một dân tộc. Một trong những nét văn hóa của phụ nữ Dao Thanh Y ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh còn giữ lại được là nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm, thể hiện sự khéo léo, tài tình của phụ nữ.

Đồng bào Mông ở Sơn La rộn ràng đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông ở Sơn La rộn ràng đón Tết cổ truyền

Ở Sơn La, đồng bào Mông thường đón Tết cổ truyền (Nào Pê Chầu) sớm hơn Tết Nguyên đán 1 tháng, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để giữ gìn nét văn hóa truyền thống, giáo dục cho con cháu luôn hướng về cội nguồn.

Độc đáo canh gà rượu Bâu bổ dưỡng của người Dao Thanh Y

Độc đáo canh gà rượu Bâu bổ dưỡng của người Dao Thanh Y

Tại chân núi Yên Tử, cộng đồng người Dao Thanh Y tuy không quá đông nhưng bà con nơi đây vẫn duy trì sinh hoạt và phát huy được nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc, trở thành một phần không thể thiếu khi nói về những giá trị văn hóa phi vật thể của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Mông trên đỉnh Hang Kia – Pà Cò

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Mông trên đỉnh Hang Kia – Pà Cò

Nằm trong vùng núi cao của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, xã Hang Kia và Pà Cò là nơi sinh sống của cộng đồng dân tộc Mông, một dân tộc có nền văn hóa lâu đời với những giá trị truyền thống đặc sắc. Trong đó, nghề dệt, thêu thổ cẩm là một phần quan trọng trong đời sống của người dân nơi đây.

Nét đẹp văn hóa trong trang phục của phụ nữ Hà Nhì

Nét đẹp văn hóa trong trang phục của phụ nữ Hà Nhì

Với sự tài hoa trong nghệ thuật thêu, can, ghép vải trên trang phục, người Hà Nhì đã tạo ra nét độc đáo riêng cho trang phục truyền thống của dân tộc mình, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú trong bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên.

Kinh lá buông - “báu vật” của đồng bào Khmer An Giang

Kinh lá buông - “báu vật” của đồng bào Khmer An Giang

Là một trong Tam bảo của Phật giáo Nam Tông Khmer, kinh lá buông được xem như “báu vật” có giá trị đặc biệt trong đời sống tâm linh của đồng bào Khmer vùng Bảy núi An Giang. Kinh lá buông không chỉ là tài liệu ghi chép về các nghi lễ tôn giáo mà còn là kho tàng tri thức về văn học, y học, lịch pháp cũng như những câu chuyện dân gian phản ánh cuộc sống của cộng đồng.

Đặc sắc trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn

Đặc sắc trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn

Là dân tộc sống lâu đời trên vùng núi cao, người Pà Thẻn vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống, đặc biệt là trang phục của phụ nữ với màu sắc, họa tiết hoa văn đặc trưng, tạo nên nét độc đáo riêng.

Đặc sắc lễ mừng cơm mới của đồng bào Mường ở Miền Đồi

Đặc sắc lễ mừng cơm mới của đồng bào Mường ở Miền Đồi

Lễ mừng cơm mới là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng và mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc của đồng bào dân tộc Mường. Đây là dịp để tạ ơn thần linh, tổ tiên đã ban cho một vụ mùa bội thu, đồng thời cũng là cơ hội để cộng đồng gắn kết, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc.

Ẩm thực của người Ê-đê

Ẩm thực của người Ê-đê

Người Ê-đê trên Cao nguyên Đắk Lắk không chỉ có truyền thống văn hóa lâu đời mà còn có nền ẩm thực đặc sắc với những món ăn độc đáo, là sự hòa quyện của hương vị núi rừng. Ẩm thực của người Ê-đê là sự hòa trộn tinh tế của các loại thực phẩm sẵn có của địa phương, các loại thảo mộc, gia vị cùng phong cách nấu nướng và chế biến đặc biệt.