Thứ 5, 20/09/2018, 0:23 GMT+7
Hà Nội vài nét tổng quan
23:31, 03/04/2017
Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, có 30 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 12 quận (Ba Đình, Bắc Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm, Tây Hồ, Thanh Xuân), 1 thị xã (Sơn Tây) và 17 huyện (Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa).  
Trải qua 1.000 năm hình thành và phát triển, kể từ khi vua Lý Thái Tổ chọn khu đất Đại La bên cửa sông Tô Lịch làm nơi định đô cho muôn đời. Hà Nội đã chứng kiến sự thăng trầm của hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lý- Trần - Lê - Mạc - Nguyễn… kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc.

1. Vị trí địa lý

Hà Nội hiện nay có tọa độ địa lý từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên - Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam - Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang - Bắc Ninh - Hưng Yên ở phía Đông và Hòa Bình- Phú Thọ ở phía Tây.

Bản đồ địa giới Hành chính Hà Nội

2. Điều kiện tự nhiên

- Diện tích:


Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 05 năm 2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô  bao gồm: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình. Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn.

Hà Nội hiện nay vừa có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, trong đó đồng bằng chiếm tới ¾ diện tích tự nhiên của thành phố. Độ cao trung bình của Hà Nội từ 5 đến 20 mét so với mặt nước biển, các đồi núi cao đều tập trung ở phía Bắc và Tây. Các đỉnh cao nhất là Ba Vì 1.281 mét; Gia Dê 707 mét; Chân Chim 462 mét; Thanh Lanh 427 mét và Thiên Trù 378 mét…Khu vực nội đô có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.
  
Thủy văn:

Hà Nội được hình thành từ châu thổ sông Hồng, nét đặc trưng của vùng địa lí thành phố Hà Nội là “Thành phố sông hồ” hay “Thành phố trong sông”. Nhờ các con sông lớn nhỏ đã chảy miệt mài hàng vạn năm đem phù sa về bồi đắp nên vùng châu thổ phì nhiêu này. Hiện nay, có 7 sông chảy qua Hà Nội: sông Hồng, sông Đuống, sông Đà, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Đáy, sông Cà Lồ. Trong đó, đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài tới 163km (chiếm 1/3 chiều dài của con sông này chảy qua lãnh thổ Việt nam). Trong nội đô ngoài 2 con sông Tô Lịch và sông Kim ngưu còn có hệ thống hồ đầm là những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội.

Ở thế kỉ trước có trên 100 hồ lớn nhỏ, phần nhiều là hồ đầm tự nhiên, là vết tích của những khúc sông chết để lại một số hồ nhân tạo, cải tạo các cánh đồng lầy thụt thành hồ. Hiện nay, dù phần lớn đã bị san lấp lấy mặt bằng xây dựng, đến nay vẫn còn tới hàng trăm hồ đầm lớn nhỏ được phân bổ ở khắp các phường, xã của thủ đô Hà Nội. Nổi tiếng nhất là các hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Quảng Bá,Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thanh Nhàn, Linh Đàm, Yên Sở, Giảng Võ, Đồng Mô, Suối Hai…

Những hồ đầm này của Hà Nội không những là một kho nước lớn mà còn là hệ thống điều hòa nhiệt độ tự nhiên làm cho vùng đô thị nội thành giảm bớt sức hút nhiệt tỏa nóng của khối bê tông, sắt thép, nhựa đường và các hoạt động của các nhà máy… Hồ đầm của Hà Nội không những tạo ra cho thành phố khí hậu mát lành -  tiểu khí hậu đô thị mà còn là những danh lam thắng cảnh, những vùng văn hóa đặc sắc của Thăng Long -  Hà Nội.

- Khí hậu:

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Hà Nội có đặc trưng nổi bật là gió mùa ẩm, nóng và mưa nhiều về mùa hè, lạnh và ít mưa về mùa đông; được chia thành bốn mùa rõ rệt trong năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa xuân bắt đầu vào tháng 2 (hay tháng giêng âm lịch) kéo dài đến tháng 4. Mùa hạ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, nóng bức nhưng lại mưa nhiều. Mùa thu bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10, trời dịu mát, lá vàng rơi. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thời tiết giá lạnh, khô hanh. Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ có tính chất tương đối, vì Hà Nội có năm rét sớm, có năm rét muộn, có năm nóng kéo dài, nhiệt độ lên tới 40°C, có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 5°C.

Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời khá dồi dào. Tổng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 120 kcal/cm², nhiệt độ trung bình năm 24,9°C, độ ẩm trung bình 80 - 82%. Lượng mưa trung bình trên 1700mm/năm (khoảng 114 ngày mưa/năm).

Trong lịch sử phát triển, Hà Nội cũng đã nhiều lần trải qua các biến đổi bất thường của khí hậu - thời tiết. Tháng 5 năm 1926, Hà Nội chứng kiến một đợt nắng khủng khiếp có ngày nhiệt độ lên tới 42,8oC. Tháng 1 năm 1955, mùa đông giá buốt nhất trong lịch sử, Hà Nội sống trong cái giá lạnh xuống đến 2,7oC. Và gần đây nhất tháng 11 năm 2008, sau khi vừa mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội hứng chịu một cơn mưa dữ dội chưa từng thấy. Hầu như tất cả các tuyến phố đều ngập chìm trong nước, lượng mưa lớn vượt quá mọi dự báo đã gây ra một trận lụt lịch sử ở Hà Nội, làm nhiều người chết, gây thiệt hại vật chất đáng kể.
 
3. Lịch sử hình thành và phát triển

Thời Lý (1010 - 1225)

Thời Lý, kinh đô Thăng Long là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước Đại Việt, góp phần phục hưng nền độc lập của đất nước, xây dựng nền văn hiến Thăng Long.

Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, đổi tên là thành Thăng Long. Trong Chiếu dời đô có nêu rõ: “thành Đại La ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Đông Bắc Nam Tây, tiện hình thế, nhìn sông tựa núi...Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời...’’. Đời Lê Thánh Tông, thành Đông Kinh tức kinh đô Thăng Long được gọi là phủ Trung Đô rồi phủ Phụng Thiên. Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ: Hoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân và tỉnh lỵ đóng ởphủ Hoài Đức tức thành Thăng Long cũ, do đó Thăng Long cũng được gọi là Hà Nội.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, việc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long là một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện ý chí tự cường dân tộc , xác lập sự tập trung chính quyền về trung ương, mở ra trang sử văn hiến, anh hùng của Thăng Long và của dân tộc.

Nhà Lý hết sức quan tâm đến việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề về xã hội và con người, trước hết là vấn đề Nhà nước và Pháp luật. Một bộ máy chính quyền hoàn chỉnh và thống nhất được hình thành trong toàn quốc, từ trung ương đến các lộ, phủ, huyện và các đơn vị cơ sở.

Các hoạt động lập pháp được đẩy mạnh. Năm 1042, Lý Thái Tông cho ban bố Hình thư. Năm 1054, Lý Thánh Tông lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Việt, xây dựng Nhà nước trung ương tập quyền gần gũi với nhân dân. Từ đây, đất nước ta dần dần đi vào thế ổn định vững chắc trên nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội. Cũng từ đây, nền văn hóa Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần. Năm 1070, nhà Lý đã lập Văn Miếu ở kinh thành Thăng Long thờ các bậc tiên Nho và mở lớp cho hoàng thái tử đến học tập, từ lớp học hoàng gia sau dần trở thành trườngQuốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Việt Nam.

Trong vòng 138 năm, nhà Lý đã tổ chức 6 kì thi đại khoa và nhiều khoa thi viết chữ, thi tính toán, thi pháp luật để tuyển nha lại làm việc.Toán học thời Lý được áp dụng vào công việc sổ sách. Địa lý học cũng được chú ý, kỹ thuật vẽ bản đồ cũng được hình thành . Năm 1075 Lý Thường Kiệt vẽ bản đồ hình thế núi, sông của châu Bố Chính, châu Ma linh và Địa lý của Chiêm thành dâng cho vua Lý. Văn học nghệ thuật phát triển, khí phách hào hùng của dân tộc được thể hiện qua những tác phẩm viết về Thăng Long, như “Chiếu hỏi ý kiến quần thần về việc dời đô Hoa Lư về định đô ở thành Đại La” của Lý Công Uẩn, “Nam quốc sơn hà” thời Lý Thường Kiệt chống giặc Tống. Hội họa, điêu khắc, vẽ tranh, tạc tượng thời này rất  phát triển phục vụ yêu cầu tôn giáo...

Nói không khí học thuật cũng như đời sống tư tưởng dưới triều Lý tại kinh đô Thăng Long chịu sự chi phối của tinh thần Tam giáo đồng nguyên, thì đó là một luận điểm có tính chất đại quan. Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh, những nhà lãnh đạo quốc gia Đại Việt lúc này hay lúc khác đã tỏ rõ sự quan tâm ở những mức độ khác nhau đối với mỗi đạo phái, mà nổi bật hơn dưới triều Lý vẫn là sự quan tâm đặc biệt đối với Phật giáo. Nhà Lý cho xây dựng nhiều chùa, tháp, đình miếu, như chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, đàn Xã Tắc, Viên Khâu, Nam Giao. Với vai trò là những phần tử trí thức của thời đại, các nhà sư có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội. Họ đã mở các trường dạy học cho cả tăng sĩ và cư sĩ. Thiền sư Vạn Hạnh đã dạy Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) tại chùa Lục Tổ. Tô Hiến Thành, Ngô Hòa Nghĩa cũng được đào tạo và thụ giáo với nhà sư Trí thiền trên núi Cao Dã. Thời Lý, đạo Phật đã hòa nhập vào cuộc sống, thịnh hành và được coi như quốc giáo. Trong lịch sử nước nhà, nền văn hóa Đại Việt được mang tên văn hóa Thăng Long.

Thời Trần (1226 - 1407)

Thời Trần (1226-1407), Thăng Long 3 lần đại thắng quân Nguyên-Mông, ngoại giao thông thoáng, trở thành kinh đô mở đối với thế giới.

Nhà Lý cầm quyền 215 năm, giặc ngoại xâm không xâm phạm Thăng Long, nhưng đất kinh kỳ vẫn phải chịu một số cơn binh đao, xung đột cung đình và chiến tranh phe phái. Kinh thành nhiều lần bị đốt phá khiến vua Lý đã phải làm nhà tranh bên sông Tô Lịch để ở. Năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý chấm dứt tình trạng loạn ly, thiết lập lại trật tự chính trị xã hội. Thừa kế những kết qủa xây dựng đất nước của nhà Lý, nhà Trần đã có nhiều chính sách và biện pháp tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững nền độc lập của Đại Việt.

Năm 1230, nhà Trần tu sửa lại thành Đại La, hoạch định lại các đơn vị hành chính, chia thành 61 phường. Điện Thiên An là nơi vua làm việc và thiết yến các quan.; điện Tập Hiền, điện Thọ Quang là nơi tiếp các sứ thần nước ngoài; điện Diên Hồng là nơi đã diễn ra Hội nghị bô lão trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông. Ngoài Hoàng thành, nhà Trần cho xây dựng thêm khu Quán Sứ ( cạnh chùa Quán Sứ ngày nay) để tiếp sứ thần nước ngoài....Thăng Long có vinh dự là mảnh đất đã sinh thành hoặc nuôi dưỡng nhiều thiền sư, nhiều nhà nghiên cứu thiền học nổi tiếng: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… Trần Thái Tông là người mở đầu triều đại nhà Trần, cũng là người nêu gương sáng cho việc tu tập, nghiên cứu Thiền học của vương triều Trần. Các nhà vua anh hùng nối tiếp của triều Trần, mà tiêu biểu nhất là Trần Nhân Tông, là những người sùng Phật, nghiên cứu sâu về Thiền học và khai thác những nhân tố tích cực của đạo Phật trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì thế, mà Phật giáo thời Trần mang nhiều nhân tố tích cực như: nhập thế, không giáo điều, không kinh viện, không chấp trước và còn có tính chiến đấu vì vận mệnh của Tổ quốc và lợi ích của nhân dân, đem lại cho Phật học những nét đặc trưng của dân tộc Việt Nam.

Về văn hóa, kinh đô Thăng Long là một thành phố mở, hội tụ tinh hoa văn hóa của nhiều nước nhưng vẫn giữ cốt cách bản sắc văn hóa dân tộc. Nho giaó thời Trần tăng uy thế, giáo dục Nho học được coi trọng và có bước phát triển. Từ năm 1247, nhà Trần đặt thêm học vị Trạng Nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn... Một yếu tố quan trọng cấu thành văn hóa Đại Việt đời Trần, hay nói một cách khác, cái để góp phần tạo nên Hào khí Đông A, đó là nền khoa học quân sự thời Trần. Trần Quốc Tuấn đã soạn sách Binh thư yếu lược và sách Vạn kiếp binh thư làm cơ sở cho việc huấn luyện, đào tạo võ quan. Thăng Long thời Trần, thượng võ trọng văn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều nhà văn, nhà thơ, hình thành nhiều nhà văn hóa lớn như Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ cố làm thơ nôm, Chu Văn An là nhà giáo dục lớn, mẫu mực, tài cao đức trọng..., Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh là những nhà văn nhà thơ lớn của dòng văn học yêu nước. Lê Văn Hưu, nhà sử học uyên bác, tác giả cuốn “ Đại Việt sử ký”.

Thời Lê (1428 - 1788)

Nhà Trần trị vì được 175 năm thì lâm vào suy thoái. Đầu năm 1428, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa ở Lam Sơn và sau 9 năm kháng chiến chống quân Minh đã kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch giải phóng Đông Quan. Ngày 29/4/1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, khôi phục lại quốc hiệu Đại Việt, định đô ở Thăng Long.

Từ đầu thế kỉ XV, Nho giáo tiến lên địa vị độc tôn, phục vụ đắc lực chế độ phong kiến tập quyền đang phát triển mạnh mẽ lúc bấy giờ, nhưng đồng thời Phật giáo và Đạo giáo vẫn được duy trì trong chừng mực có lợi cho địa vị thống trị của giai cấp phong kiến.

Theo Đỗ Nhuận thì vua Lê Thánh Tông là một người rất am hiểu và tôn sùng Lý học của Tống Nho: “Về phần Lý học, hoàng thượng vừa sáng suốt vừa rộng khắp, ở trong lí lẽ phức tạp có sự phân biệt rõ ràng, nghĩa lí tinh vi sâu sắc…”. Lê Thánh Tông quan niệm “đạo là sự việc đương nhiên rõ ràng dễ biết; lí là cái lí do dĩ nhiên (tức lí do phát sinh ra sự vật – TG) huyền vi mầu nhiệm khó mà thấy được…” (Toàn thư. Sđd, tập 2, tr. 466). Đạo chính là quy luật của sự vật mà lí trí con người có thể nhận thức được, còn lí là một yếu tố tinh thần huyền bí làm khởi nguyên của mọi sự vật. Đó chính là tư tưởng triết học duy tâm của học thuyết Tống Nho. Sử học được phát triển cao và là phần quan trọng nhất của khoa học xã hội và nhân văn thời Lê

Với tinh thần “Văn - Sử - Triết bất phân”, hầu hết giới quan lại đều nắm chắc, các nhà sáng lập nên triều đại và toàn thể trí thức, đều có ý thức ghi chép lại lịch sử, thuật lại những lời nói, hành động đương thời của mình để truyền lại cho con cháu lấy đó làm bài học kinh nghiệm trong việc xử thế.

Bộ sử đầu tiên được biên soạn dưới thời Lê sơ là bộ Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi . Năm 1455, Lê Nhân Tông sai Phan Phu Tiên soạn bộ Đại Việt sử ký tục biên chép tiếp theo bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đời Trần. Bộ sử này gồm 10 quyển, chép lịch sử từ Trần Thái Tông (1225-1257) cho đến khi quân Minh bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Năm 1479, nhà sử học Ngô Sĩ Liên theo lệnh của Lê Thánh Tông biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

Về mặt sử liệu, Đại Việt sử ký toàn thư đã thu thập và trình bày một cách có hệ thống, theo lối biên niên, những tư liệu về lịch sử Việt Nam trong một thời kì phát triển dài từ buổi đầu dựng nước cho đến đầu thế kỉ XV.

Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, thời Lê sơ là thời kì độc tôn Nho giáo và Lê Thánh Tông là ông vua Nho giáo điển hình. Việc sử dụng sử học làm vũ khí tinh thần để củng cố và động viên tinh thần dân tộc học trong quần chúng nhân dân là truyền thống hình thành từ lâu đời của cái học Nho giáo. Nhưng đối với các vị vua đời Lê Sơ, nhất là với vị vua “hùng tài đại lược” Lê Thánh Tông còn bởi một lí do hết sức cấp thiết và quan trọng: Khẳng định sự hùng cường của quốc gia Đại Việt trong thế đối đầu thường xuyên với đế chế nhà Minh ở phương Bắc và thế chiến thắng tất yếu với Chiêm Thành ở phương Nam, cùng với Bồn Man, Ai Lao ở phương Tây.

Sử học dưới thời Lê sơ, đã hoàn thành xứng đáng nhiệm vụ lịch sử của nó: Góp phần không nhỏ trong việc động viên tinh thần dân tộc, củng cố tình đoàn kết từ triều đình đến dân chúng, đặt nền móng cho toàn bộ giáo dục và khoa học nhằm xây dựng quốc gia Đại Việt trở thành một quốc gia hùng cường ở Đông Nam Á vào nửa cuối thế kỉ XV. Vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484), lần đầu tiên trong lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam, kể từ khoa Ất Mão (1075) đến lúc này, Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ đặt ở Văn Miếu kinh đô Thăng Long. ...Những tấm bia Tiến sĩ ấy đã làm nức lòng phấn chí biết bao sĩ tử đang miệt mài kinh sử, đua tranh trên con đường khoa cử và hiện nay còn lại như dấu vết một quá khứ thịnh đạt của nền giáo dục thi cử phong kiến.

Trong 3 thế kỉ từ đầu thế kỉ XVI đến XVIII, đời sống văn hóa giáo dục thời Lê –Trịnh khá phát triển. Một cuốn sử viết bằng thơ xuất hiện ở thời kì này, đó là quyển Thiên Nam ngữ lục, dài hơn 8.000 câu thơ thể lục bát. Hoàng Lê nhất thống chí hay An Nam nhất thống chí của Ngô Thì Chí và các tác giả trong Ngô gia văn phái, chép công việc từ đời Trịnh Sâm đến lúc nhà Trịnh mất nghiệp (1787), viết theo thể Tam quốc chí diễn nghĩa, có 7 hồi và một bản tục biên 9 hồi nữa, chép tiếp từ khi Lê Chiêu Thống chạy sang và nhiều công việc của triều Tây Sơn.

Thời Tây Sơn (1788 - 1802) 

Ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, hiệu là Quang Trung, rỗi xuất quân ra Bắc, đuổi giặc Thanh. Trưa mồng 5 Tết, vua Quang Trung cùng đại quân tiến vào thành Thăng Long, đại phá 29 vạn quân Thanh, giải phóng đất nước khỏi họa xâm lược nhà Thanh. Ngay năm 1789, Quang Trung đã mở khoa thi Hương đầu tiên ở Nghệ An, ban Chiếu lập học khuyến khích các địa phương tổ chức lại việc học hành và thi cử, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của quốc gia. Nhưng trong buổi đầu cách tuyển dụng quan liêu chủ yếu vẫn là lối tiến cử và cầu hiền. Trong quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa, Nguyễn Huệ rất chú ý thu nạp nhân tài, trọng dụng những sĩ phu thành tâm theo mình. Cuối năm 1788, khi 29 vạn quân Thanh sang xâm chiếm nước ta, Ngô Thì Nhậm là người có công lao lớn đóng góp vào sự nghiệp đại phá quân Thanh. Sau chiến thắng oanh liệt năm 1789, Ngô Thì Nhậm được Quang Trung giao cho giữ vai trò chủ yếu trong công tác ngoại giao với nhà Thanh.  

Ngô Thì Nhậm, với các loại nghiên cứu địa lí, lịch, phê bình (văn học, lịch sử), bình luận chính trị, xã hội, văn từ hành chính, thư từ bang giao… hết sức phong phú và uyên bác, đến nay còn giúp ích cho chúng ta nhiều tài liệu rất quý để tìm hiểu đánh giá các mặt kinh tế, văn hóa, triết học, ngoại giao của thời kì Lê mạt và Tây Sơn.

Nghiên cứu khoa học thời Tây Sơn trên đất Thăng Long còn phải kể tới những tên tuổi khác như: Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng, Cao Huy Diệu, Ngô Ngọc Du, Ninh Tốn, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Hữu Chỉnh… Năm 1792, vua Quang Trung qua đời. Lịch sử triều đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử nước nhà.

Thời nhà Nguyễn và buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược

Sau khi chiếm được Bắc Thành từ tay triều Tây Sơn, Gia Long không định đô ở đây mà chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô của cả nước.

Từ đấy, Thăng Long phải chịu một sự chuyển đổi lớn: từ địa vị là kinh đô trong gần 800 năm trước, nay là một trấn thành rồi tỉnh thành. Qui mô Thăng Long cũng bị thu hẹp xuống còn khoảng 100 ha, sự phát triển kinh tế nửa đầu thế kỉ XIX cũng không đồng đều. Bộ mặt đô thị dồn về phía Đông và Đông Nam. Tuy không còn là đất đế đô nhưng tầm quan trọng về kinh tế và chính trị lúc này vẫn rất lớn. Chiều dày văn hóa của TL-HN vẫn được phát huy và nuôi dưỡng qua truyền thống yêu nước và anh hùng, qua sức sống của nền văn hóa dân gian, qua nếp sống của người Hà Nội lúc này vẫn nổi tiếng là  thanh lịch , tao nhã...

Năm 1858, thực dân pháp nổ súng xâm lược nước ta. Năm 1873, chúng đánh thành Hà Nội lần thứ nhất. Hà Nội cùng cả nước đứng lên kháng chiến dưới ngọn cờ của kinh độ sứ Nguyễn Tri Phương. Thành Hà Nội thất thủ, bị giặc Pháp chiếm ngày 20/11/1873. Sau khi thua ở trận Cầu giấy, ngày 21/4/ 1883, quân Pháp lại đổ bộ vào Hà Nội lần thứ 2. Tổng đốc Hoàng Diệu lên thành chỉ huy cuộc chiến đấu của nhân dân. Bị quân Pháp đột nhập vào thành, biết không chống được, tổng đốc Hoàng Diệu đã thảo tờ biểu gưỉ vua Tự Đức rồi tuẫn tiết. Hà Nội trở thành một thành phố theo chế độ nhượng địa của thực dân Pháp.

Tháng 7/1888, tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội , đứng đầu là viên Đốc Lý. Ngày 1/10/1888, triều đình Huế có chỉ dụ dâng Hà Nội cho Pháp. Mặc dù thực dân Pháp đã cấu kết được với triều đình Huế, đặt ách thống trị trên đất nước ta, nhưng chúng luôn luôn vấp phải sự kháng cự của nhân dân ta.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công... Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội chủ động, nhạy bén khởi nghĩa giành chính quyền , trở thành Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngay từ những ngày đầu đô hộ của thực dân Pháp, nhiều tổ chức yêu nước đã ra đời ngay trong nội thành; như phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Đông Du...Tháng 3/1929, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội là một thắng lợi quan trọng của tư tưởng vô sản trước tư tưởng phi vô sản và các xu hướng quốc gia khác. Và ngày 17-6-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên, Đông Dương Cộng sản Đảng chính thức thành lập. Chính cương và tuyên ngôn của Đảng được công bố..

Cùng với việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ, tại Nam kỳ có An Nam cộng sản đảng và Trung kỳ có Đông Dương cộng sản liên đoàn. Tháng 3-1930, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản đã tiến hành Hội nghị hợp nhất ba tổ chức này tại Hồng Kông. Nhờ đó, ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (đến tháng 10 đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương).

Tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo vào Hà Nội. Nhân dân Hà Nội sống dưới ách thống trị của cả thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 15/8/1945, phát xít Đức đầu hàng đồng minh, bọn bù nhìn và các đảng phái thân Nhật hoang mang. Không khí cách mạng ở Hà Nội diễn ra sôi sục. Ngày 16-8-1945, đại hội quốc dân họp ở Tân Trào đã thông qua "Lệnh Tổng khởi nghĩa" và bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương, tức chính phủ lâm thời do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã đồng loạt vùng dậy. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi trọn vẹn vào ngày 19/8 ở Hà Nội đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ nhân dân cả nước nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 2/9/1945 , tại qủang trường Ba Đình đã diễn ra cuộc mít tinh lớn chưa từng có, hàng chục vạn người tham dự. Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, công bố trước toàn thế giới sự ra đời của nước VNDCCH. Taị phiên họp đầu tiên ngày 6/1/1946, Quốc hội đã quyết định Hà Nội trở thành thủ đô nước VNDCCH. Hồ Chủ tịch được cử tri tín nhiệm với 98,4% số phiếu bầu.
Theo hanoi.gov.vn
Ý kiến bạn đọc
Bình luận: