Thủ thỉ cùng Plung

Thủ thỉ cùng Plung
Giao hòa

Cảnh sống bình thường này với ta nó đã phơi ra ở những khúc sông trên nguồn Đạ Dâng, Sê San, Pô Kô, Đak Bla, rồi nơi những hồ nước mà người S’tiêng sống gần đấy ở Cát Tiên, là những cù lao nằm giữa dòng Sêrêpôk của người Ê Đê, Lào, là những cánh đồng mỡ màu ở hạ lưu sông Krông Ana, hay các dải ruộng nằm dưới các rặng sơn lâm ở hạ lưu dãy Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Bidoup, rồi cả nơi những bàu nước sình lầy um tùm lau lách ta đã sống qua, và rộng khắp nữa là mọi ngóc ngách, xó núi, xó rừng. Bá tánh người bản địa hay đưa ta đi lại trên những chiếc Plung thế này-giống như khi ở phố người ta cho ta quá giang xe máy vậy. Sông hồ tách biệt, núi non cách trở thì dùng gì đây nếu không là Plung chứ, để đi lại, nhất là mùa mưa và chuyên chở người, thổ sản. Nhà nào biết làm ăn mà chẳng có Plung. Cái Plung nó không có phép lạ, mà không gian sinh nở ra nó tạo ra những tầng giá trị, ý nghĩa.

Độc mộc trôi trong sương sớm. Ảnh: N.H.T
Độc mộc trôi trong sương sớm. Ảnh: N.H.T

Những mùa mưa, mùa khô ấy ngồi trên Plung, ta cảm nhận đầy ắp sự thanh khiết. Có lẽ vì cái thân cây gỗ nổi trên nước thì nó cộng hưởng được mọi nguyên lý vật chất ở chiều khí động học lẫn những điều sâu kín của tự nhiên, thủy-mộc giao hòa. Nó lướt đi nhanh, nhưng đằm lắm, trôi nổi tỉnh bơ, cứ len theo con sóng, nương vào sóng nên khó lật úp, và cũng không chút đối kháng nào với sông, với gió nắng, mưa bão. Dĩ nhiên các sắc dân nhóm Môn-Khmer gọi nó là Plung, còn các sắc dân nhóm Malaiyo-Polynesién gọi nó là M’ran. Đơn giản nó chỉ là nguyên thân cây đục lõm xuống để rỗng ra, nổi được trên mặt nước và chứa chở được người, vật đi đó đây.

Rừng núi đầy ra đấy, sông hồ, suối bàu nằm ngay bên rừng, vớ lấy một cái cây đục cho tử tế vào là có một vật dụng tuyệt vời để đi, sinh hoạt. Độc mộc, nghĩa là không lắp ghép. Thế thôi. Thì hải thuyền, tàu bè nào đóng bằng sắt thép, nhôm, composite hay chất liệu tổng hợp gì đi nữa cũng chỉ nhằm một mục đích chung là vận tải, phục vụ con người. Tùy mức độ, nhu cầu, không gian khác nhau mà vật thả xuống nước có nhiệm vụ nổi trôi di chuyển đó khác nhau về thiết kế, hình thù và cách sử dụng thôi. Nó phù hợp với không gian sống, không gian văn hóa, không gian tâm hồn người sơn nguyên mà đời cho ta được dự phần, cái không gian mà mọi thứ gắn chặt vào thảo mộc.

Sao xanh trong dấu chim rừng

Ở Tây Nguyên, trong các gia đình bản địa, người phụ nữ gánh vác, làm mọi thứ, ngoại trừ con Plung này. Plung đúng là thứ duy nhất mà đàn bà không phải đụng tay vào. Toàn bộ quá trình ra đời của Plung đều do đàn ông. Họ lên rừng tìm chọn cho được cây Dhi Grier (cây sao xanh, tiếng phổ thông). Chỉ cây rừng này, vì chúng chịu được nắng và nước, khó mục và cũng không bị nứt nẻ trong môi trường ẩm nóng. Và chặt đúng một cây, mang về, không được chặt quá. Khi đi tìm cây Dhi Grier này trong rừng, nếu phía trước nghe có tiếng chim kêu là đi tiếp, tốt. Nhưng nếu tiếng kêu của chim ở đằng sau lưng thì không tốt, phải quay về ngay. Có lẽ khi gia chủ tính chuyện làm một con Plung đã được núi rừng nghe thấy, ứng cho biết là “được” hay “chưa” thông qua loài chim rừng bất kỳ nào đó là sứ giả. Trước khi đốn cây phải làm lễ cúng xin Yàng cho phép hạ lấy. Mười hai mét, mười mét,  tám mét, hay sáu mét, bốn mét chiều dài cho một con Plung là phụ thuộc ở gia chủ cho nhu cầu chở người, chở thổ sản, hay đi chăn bò, chở con đi học, đánh bắt cá.

Nhưng lòng của con Plung rộng bốn mươi, sáu mươi, hay tám mươi phân là phụ thuộc vào bề ngang cây gỗ kiếm được. Nghĩ ra nó là một sự thông minh, tinh tế đến tối giản, cực khoa học. Sự xuất hiện của nó hợp lẽ đất trời. Một thực thể, vật dụng bản nguyên; một sản phẩm của xã hội nguyên bản, vô nhiễm hoàn toàn với “công nghiệp”, “kỹ nghệ” và phá hủy. Công nghiệp là tiện ích, là văn minh, mà cũng là bạo tàn; là cấp cao mà cũng là cấp thấp, là đức hạnh mà cũng là tội lỗi. Chưa chắc công nghiệp “ở trên” mà cũng chưa chắc nông nghiệp là “ở dưới”, cũng như  tên lửa thông minh (và văn minh) hơn hoa hồng. Với con Plung, người Tây Nguyên đục cây gỗ xong, tri ân trời đất (cúng) để Yàng chứng kiến. Khi đưa thuyền ra chạm xuống mặt nước, cúng để Yàng thấy cây đã hóa kiếp thành thuyền-từ đây cuộc đời trên đất đã sang cuộc đời dưới nước. Chưa nói trước đó, khi hạ và đục lấy cây Dhi Grier phải để một quả trứng gà lên đấy, nếu trứng không lăn thì thuyền ra đời mới ngon, tốt, sẽ không lật. Plung, một thực thể sống tất yếu với người sơn nguyên, nó thân thiết và máu thịt như chiếc gùi hay cái xà gạt vậy mà.

Nhưng khi hoàn thành chiếc thuyền thì việc sử dụng nó được trao ngay cho phụ nữ và người phụ nữ cũng là chủ thể sở hữu lấy nó. Mẫu hệ mà! Vì vậy nên thường thấy hình ảnh người phụ nữ hàng ngày trên con thuyền độc mộc và luôn chèo, bơi giỏi hơn đàn ông. Đàn ông nếu dùng đến chỉ là đi bắt cá, chở con đi chơi, chứ còn đưa thuyền đi bờ này sang bờ kia, lên rẫy, vào núi, vận chuyển hàng hóa, bán mua là trong tay người đàn bà tất-số phận họ như “dính” với chiếc thuyền độc mộc.  
 
Một phụ nữ M’nông sử dụng thuyền độc mộc để đi lấy củi. Ảnh: N.H.T
Một phụ nữ M’nông sử dụng thuyền độc mộc để đi lấy củi. Ảnh: N.H.T
Ký ức giữa thực tại                         

Rồi mới đó, độ 25 năm nay, trên những dòng sông, không đâu còn thấy bóng hình của Plung nữa. Những người S’tiêng ở sóc Bù Khiêu, Bù Run vùng Cát Tiên đã đi xuồng vỏ thép trên sông Đồng Nai rồi. Những người Ê Đê, Lào đã không dùng mi chở ta trên sông Sêrêpôk. Thì cũng như người Bahnar ở Kon Tum cũng đâu cho ta qua sông Đak Bla bằng Plung vào mùa khô năm nay như 23 năm trước.

Khi đi quanh mà không thấy thuyền độc mộc ở các buôn làng vùng sâu, vùng xa thì ta chỉ còn biết về nhìn phiên bản của mi trong… bảo tàng. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Đak Lak đã nhanh tay “tậu” được một chiếc từ không gian của các buôn người M’nông bên hồ Lak, cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần 50 cây số.

Plung, hình như đã làm xong nhiệm vụ lịch sử. Nhiệm vụ lịch sử ở chỗ, nó chỉ có thể tồn tại khi con người nương tựa vào thiên nhiên để sống, hòa thuận với tự nhiên, dè sẻn với thiên nhiên, rón rén với thiên nhiên, và kỹ nghệ, cơ khí máy móc (ở đây là máy móc dùng cho thủy giao) chưa phát triển và dễ phổ biến như bây giờ. Những con sông, giờ  đây vì bị đoạn ra làm nhiều khúc để làm thủy điện kia, đành phải nói lời vĩnh biệt với người bạn sắt son đi từ ban sơ của nó. Khi những vùng Tơ nau vó (bàu nước hoang-nơi quần tụ muôn loài thủy sinh, và chỗ để các loài thú tìm về uống nước) đã bị đẩy ra chơi vơi khi xung quanh không còn rừng, thì  Plung cũng lạc loài, vô duyên. Các đơn vị xã, thôn mới hình thành ngay trong lòng các khu rừng cuối cùng, và các xưởng cơ khí, gò hàn luôn đi cùng các làng nhập cư thì mi cũng hết cơ hội để tồn tại là phải thôi. Loài người đang “đi lên” chứ nào lại đi dọc hay đi ngang như  Plung.

Plung nhắc nhớ con người về buổi còn gần gũi với thiên nhiên, xài đủ sống, không thu vén, dự trữ, đoạt cướp, tranh đua, gửi của cải lẫn con cái ở nước ngoài; nhà này đứng trên nhà kia, người này đứng trên người nọ, nhất là về sự khéo léo hòa thuận của con người trước trời đất, và sự giới hạn của lòng tham. Plung là một thứ ký ức, bộ hồi ức về buổi ban đầu, buổi con người còn đơn sơ, tử tế, thuần khiết.

Giờ đây, đỏ mắt tìm kiếm mới thấy vật vờ đôi ba con Plung/M’ran ở dăm ba bến hồ, bến sông ở vùng Ayun Pa của người Jrai, vùng Kon Tum của người Bahnar, vùng hạ lưu sông Sêrêpôk ở Ea Súp, Buôn Đôn của người Ê Đê-Lào-M’nông. Nhưng con nào cũng tàn tạ lắm rồi, như các “cụ Plung”, tuổi năm-sáu-bảy mươi năm cả. Hình ảnh hấp hối rực rỡ duy nhất của Plung chỉ còn có thể chứng kiến ở vùng của người M’nông Gar, quanh hồ Lak, xứ Lak. Nơi này người M’nông Gar thuần sơn nguyên, buôn của họ còn dày đặc, và họ sinh sống ngàn đời với nước (Lak là nước), với nghề trồng lúa nước và đánh bắt thủy sinh. Hàng ngày những người phụ nữ ở buôn Jun, buôn Lê vẫn băng hồ bằng Plung để đi rẫy ở núi bên xa kia. Và những người phụ nữ ở buôn Mliêng, Triết, Trấp… vẫn ra chợ trấn huyện lỵ bằng Plung. Vì hồ tự nhiên Lak quá đẹp, bản sắc văn hóa M’nông Gar còn quá đặc sắc, nên khách du lịch tìm đến đây nhiều. Và nhiều nhà M’nông Gar cũng biết lấy những con Plung để chở khách đi chơi, kiếm chút tiền. Với tôi, Lak là “Bảo tàng sống” cuối cùng về thuyền độc mộc trên miền Tây Nguyên.

Dù bà H’Duôi ở buôn Jun sát mép hồ nói rằng, cũng 25 năm rồi bà không thấy có chiếc Plung nào mới được đưa xuống hồ cả. Số thuyền độ 20 chiếc còn lại quanh đây là những chiếc ông cha để lại từ những năm 1960 đến 1990 của thế kỷ trước. Con nào giờ nhìn thân thể cũng như tấm áo của những kẻ cơ hàn, đã dày đặc chỗ vá to, nhỏ từ bụng đến thân, từ đầu đến đuôi. Ông Y Bhun ở buôn Lê cũng kể rằng, quanh đây không ai còn dám lên rừng để lấy cây Dhi Grier nữa. “Xứ Lak cũng đã hết sạch cây cối rồi. Nơi còn rừng, nó ở xa lắm!”.

Lòng vòng quanh xứ sở của thuyền độc mộc Lak này với ta, ông Y Bhun, chợt dự báo: “Plung sẽ không bao giờ còn tồn tại nữa!”. Ta nhớ ánh mắt già ngây (chứ không phải thơ ngây!) của ông Bhun khi đưa tay chỉ ra nơi người Mnông mình bao đời đậu Plung: “Ồ, mấy chiếc đó hỏng lụi ít năm nữa là xong, chấm hết thôi!”.
Theo baogialai.com.vn

Có thể bạn quan tâm

Lễ ăn mừng đầu lúa mới của đồng bào Raglai

Lễ ăn mừng đầu lúa mới của đồng bào Raglai

Đồng bào Raglai sở hữu một kho tàng tri thức dân gian đồ sộ, từ sử thi, truyện cổ, dân ca đến luật tục… Không chỉ vậy, đồng bào còn lưu giữ nhiều lễ hội dân gian đặc sắc như Lễ ăn mừng đầu lúa mới, lễ bỏ mả, các nghi lễ vòng đời… Trong đó lễ ăn mừng đầu lúa mới đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, khẳng định gái trị văn hóa sâu sắc và vai trò quan trọng trong đời sống, tinh thần của cộng đồng người Ragalai.

Món cà đắng lòng gà bọc lá chuối của người Jrai

Món cà đắng lòng gà bọc lá chuối của người Jrai

Ẩm thực của người Jrai ở Gia Lai luôn độc đáo với những món ăn ngon, dân dã, đậm nét truyền thống. Trong số đó, món cà đắng lòng gà bọc lá chuối nổi bật như một biểu tượng của sự sáng tạo và gắn kết với thiên nhiên.

Vui Tết rừng với đồng bào Mông Nà Hẩu

Vui Tết rừng với đồng bào Mông Nà Hẩu

Đến hẹn lại lên, cứ vào ngày cuối cùng của tháng Giêng hằng năm, đồng bào dân tộc Mông ở xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên (Yên Bái) nô nức hội tụ tại các điểm trung tâm bản để tổ chức Lễ Cúng rừng hay còn gọi Tết rừng.

Gìn giữ món bánh bạc đầu truyền thống của người Sán Dìu

Gìn giữ món bánh bạc đầu truyền thống của người Sán Dìu

Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu tại Quảng Ninh sở hữu những đặc trưng riêng, thể hiện sự khéo léo, tinh tế trong chế biến, phối hợp các thực phẩm. Một trong những món ăn đặc sắc đó là bánh bạc đầu đã trở thành đặc sản nổi tiếng. Thưởng thức các món bánh thơm ngon và tìm hiểu về văn hóa độc đáo của người Sán Dìu ở vùng cao Quảng Ninh là trải nghiệm đáng nhớ.

Tái hiện lễ Khai hạ của đồng bào dân tộc Mường

Tái hiện lễ Khai hạ của đồng bào dân tộc Mường

Nằm trong khuôn khổ các hoạt động của ngày hội " Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc" xuân Ất Tỵ 2025, tại làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội), đồng bào dân tộc Mường đến từ tỉnh Hòa Bình đã tổ chức tái hiện lễ hội Khai hạ đặc sắc.

Nghi thức lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông của đồng bào dân tộc Thái

Nghi thức lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông của đồng bào dân tộc Thái

Nằm trong khuôn khổ các hoạt động của ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” xuân Ất Tỵ 2025, tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) bà con đồng bào dân tộc Thái đến từ huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức tái hiện trích đoạn nghi thức lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông (Kin Chiêng Boọc Mạy) đặc sắc.

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp trang phục truyền thống của người Dao Thanh Y

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp trang phục truyền thống của người Dao Thanh Y

Người Dao Thanh Y sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhiều năm qua vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa riêng thông qua phong tục, tập quán hay nếp sinh hoạt hằng ngày và đặc sắc trong đó có bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Thanh Y là một di sản văn hóa độc đáo, mang đậm nét đặc trưng.

Lễ cúng rừng của người Mông nơi đại ngàn xanh Nà Hẩu

Lễ cúng rừng của người Mông nơi đại ngàn xanh Nà Hẩu

Đối với đồng bào dân tộc Mông ở xã Nà Hẩu (huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái), lễ cúng rừng hay còn gọi Tết rừng có từ khi tổ tiên di cư đến nơi đây lập làng, lập bản và trở thành bản sắc văn hóa, tín ngưỡng dân gian độc đáo riêng có.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

Ngày 5/2 (tức mùng 8 Tết Ất Tỵ), tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc (Hòa Bình) diễn ra Lễ hội Khai hạ dân tộc Mường năm 2025. Đây là lễ hội dân gian truyền thống lớn nhất của dân tộc Mường, đồng thời trở thành nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng không thể thiếu trong dịp Tết đến, Xuân về của người Mường ở Hòa Bình. Lễ hội thu hút hàng nghìn người dân, du khách trong và ngoài tỉnh đến tham gia.

Gìn giữ nghề dệt thổ cẩm trang phục dân tộc Thái ở Điện Biên

Gìn giữ nghề dệt thổ cẩm trang phục dân tộc Thái ở Điện Biên

Cộng đồng người Thái là một trong ba dân tộc chiếm phần lớn dân số của tỉnh Điện Biên. Nghề dệt thổ cẩm trang phục truyền thống của dân tộc Thái dù đã từng đối mặt với nguy cơ mai một nhưng hiện vẫn được gìn giữ. Những nghệ nhân lớn tuổi vẫn bền bỉ truyền nghề cho thế hệ trẻ từng họa tiết, hoa văn đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Hội làng mừng Gươl mới của đồng bào Cơ-tu thôn Aró. Ảnh: Khánh Nguyên

Người Cơ-tu vui hội mừng Gươl mới

Với đồng bào Cơ-tu ở thôn Aró, xã Lăng, huyện Tây Giang (Quảng Nam), Gươl là không gian sinh hoạt chung, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh. Để chào mừng công trình trọng đại này, đồng bào Cơ-tu thường tổ chức lễ mừng Gươl mới, góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa cộng đồng.

Lễ sum họp của người M’nông

Lễ sum họp của người M’nông

Cứ từ 3 đến 5 năm, trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3, khi mùa màng thu hoạch xong, đồng bào M’nông ở tỉnh Đắk Nông lại tổ chức lễ sum họp nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Gìn giữ nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm của người Dao Thanh Y

Gìn giữ nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm của người Dao Thanh Y

Nếu như người đàn ông đóng vai trụ cột trong đời sống của người Dao Thanh Y thì phụ nữ ở dân tộc này lại nắm giữ những giá trị không thể thay thế, là người nuôi dưỡng phát huy nguồn văn hóa truyền thống trong mỗi gia đình và rộng hơn là bản sắc của cả một dân tộc. Một trong những nét văn hóa của phụ nữ Dao Thanh Y ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh còn giữ lại được là nghệ thuật thêu, dệt thổ cẩm, thể hiện sự khéo léo, tài tình của phụ nữ.

Đồng bào Mông ở Sơn La rộn ràng đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông ở Sơn La rộn ràng đón Tết cổ truyền

Ở Sơn La, đồng bào Mông thường đón Tết cổ truyền (Nào Pê Chầu) sớm hơn Tết Nguyên đán 1 tháng, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để giữ gìn nét văn hóa truyền thống, giáo dục cho con cháu luôn hướng về cội nguồn.

Độc đáo canh gà rượu Bâu bổ dưỡng của người Dao Thanh Y

Độc đáo canh gà rượu Bâu bổ dưỡng của người Dao Thanh Y

Tại chân núi Yên Tử, cộng đồng người Dao Thanh Y tuy không quá đông nhưng bà con nơi đây vẫn duy trì sinh hoạt và phát huy được nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc, trở thành một phần không thể thiếu khi nói về những giá trị văn hóa phi vật thể của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Mông trên đỉnh Hang Kia – Pà Cò

Giữ lửa nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Mông trên đỉnh Hang Kia – Pà Cò

Nằm trong vùng núi cao của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, xã Hang Kia và Pà Cò là nơi sinh sống của cộng đồng dân tộc Mông, một dân tộc có nền văn hóa lâu đời với những giá trị truyền thống đặc sắc. Trong đó, nghề dệt, thêu thổ cẩm là một phần quan trọng trong đời sống của người dân nơi đây.

Nét đẹp văn hóa trong trang phục của phụ nữ Hà Nhì

Nét đẹp văn hóa trong trang phục của phụ nữ Hà Nhì

Với sự tài hoa trong nghệ thuật thêu, can, ghép vải trên trang phục, người Hà Nhì đã tạo ra nét độc đáo riêng cho trang phục truyền thống của dân tộc mình, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú trong bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên.

Kinh lá buông - “báu vật” của đồng bào Khmer An Giang

Kinh lá buông - “báu vật” của đồng bào Khmer An Giang

Là một trong Tam bảo của Phật giáo Nam Tông Khmer, kinh lá buông được xem như “báu vật” có giá trị đặc biệt trong đời sống tâm linh của đồng bào Khmer vùng Bảy núi An Giang. Kinh lá buông không chỉ là tài liệu ghi chép về các nghi lễ tôn giáo mà còn là kho tàng tri thức về văn học, y học, lịch pháp cũng như những câu chuyện dân gian phản ánh cuộc sống của cộng đồng.

Đặc sắc trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn

Đặc sắc trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn

Là dân tộc sống lâu đời trên vùng núi cao, người Pà Thẻn vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống, đặc biệt là trang phục của phụ nữ với màu sắc, họa tiết hoa văn đặc trưng, tạo nên nét độc đáo riêng.

Đặc sắc lễ mừng cơm mới của đồng bào Mường ở Miền Đồi

Đặc sắc lễ mừng cơm mới của đồng bào Mường ở Miền Đồi

Lễ mừng cơm mới là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng và mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc của đồng bào dân tộc Mường. Đây là dịp để tạ ơn thần linh, tổ tiên đã ban cho một vụ mùa bội thu, đồng thời cũng là cơ hội để cộng đồng gắn kết, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc.

Ẩm thực của người Ê-đê

Ẩm thực của người Ê-đê

Người Ê-đê trên Cao nguyên Đắk Lắk không chỉ có truyền thống văn hóa lâu đời mà còn có nền ẩm thực đặc sắc với những món ăn độc đáo, là sự hòa quyện của hương vị núi rừng. Ẩm thực của người Ê-đê là sự hòa trộn tinh tế của các loại thực phẩm sẵn có của địa phương, các loại thảo mộc, gia vị cùng phong cách nấu nướng và chế biến đặc biệt.