Thứ 3, 23/01/2018, 20:36 GMT+7
Thanh Hóa vài nét tổng quan
16:06, 02/05/2017
Thanh Hoá có 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương gồm: 1 thành phố (Thanh Hóa), 2 thị xã (Bỉm Sơn, Sầm Sơn) và 24 huyện (Đông Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Thiệu Hóa, Triệu Sơn, Yên Định, Tĩnh Gia, Nông Cống, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Như Thanh, Như Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát).
1. Địa lý:

Thanh Hoá là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ có toạ độ địa lý:

            - Điểm cực Bắc: 20040’B (tại xã Tam Chung – huyện Quan Hoá)

            - Điểm cực Nam: 19018’B (tại xã Hải Thượng – Tĩnh Gia)

            - Điểm cực Đông: 106004’Đ (tại xã Nga Điền – Nga Sơn)

            - Điểm cực Tây: 104022’Đ (tại chân núi Pu Lang – huyện Quan Hóa)

            Thanh Hoá có lãnh thổ rộng lớn: 11.129,48 km2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Về vị trí địa lý, Thanh Hóa tiếp giáp với các tỉnh và nước bạn như sau:

            - Phía Bắc: giáp 3 tỉnh, gồm: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình với đường ranh giới dài 175km.

            - Phía Nam : giáp Nghệ An với đường ranh giới dài 160 km

            - Phía Đông: giáp biển Đông với chiều dài đường bờ biển 102 km.

            - Phía Tây: giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào với đường biên giới dài 192km.


Địa hình 

Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, chia cắt nhiều và thấp dần theo hướng Tây - Đông. Từ phía Tây sang phía Đông có các dải địa hình núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Trong tổng diện tích 11.129,48 km2 thì địa hình núi, trung du chiếm 73,3% ; đồng bằng 16% và vùng ven biển 10,7%.

Các khu vực địa hình.
Bao gồm  có 3 dạng địa hình: núi và trung du; đồng bằng ven biển.

- Địa hình núi có độ cao trung bình 600 -700m, độ dốc trên 250; ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1560 m) ở hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1291m) ở tả ngạn sông Chu.

- Địa hình trung du có độ cao trung bình 150 – 200m, độ dốc 12 - 200, chủ yếu là các dạng đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải. Dạng địa hình này rất đặc biệt, chỉ nhấp nhô lượn sóng và rất thoải.

       Dạng địa hình núi và trung du phân bố ở 11 huyện miền núi của tỉnh; là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nông - lâm nghiệp với các loại cây lâm sản và các cây như đậu, chè, lạc, mía… các cây trồng nói trên là cơ sở để phát triển ngành chế biến nông - lâm  sản của Thanh Hoá.

- Đồng bằng châu thổ Thanh Hoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở mé Đông Nam. Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu, cao từ 2 - 15m. Trên đồng bằng nhô lên một số đồi núi có độ cao trung bình 200 - 300m được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau. Còn vùng ven biển phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã: Sầm Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Trên địa hình này có các vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Mã, sông Yên… Vùng đất cát ven biển nằm ở phía trong các bãi cát, có độ cao trung bình từ 3 - 6m, ở phía Nam Tĩnh Gia, chúng có dạng sống trâu do các dãy đồi kéo dài ra biển. Bờ biển của đồng bằng Thanh Hoá là bờ biển phẳng với thềm lục địa tương đối nông và rộng. Trên địa hình ven biển này có nhiều bãi tắm nổi tiếng, như: Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Về địa hình của Thanh Hoá rất phong phú, đa dạng; là điều kiện để Thanh Hoá phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện và cho phép chuyển dịch cơ cấu dễ dàng trong nội bộ từng ngành. Nhiều cảnh quan đẹp kết hợp giữa rừng - biển - đồng bằng là điều kiện để phát triển du lịch, dịch vụ. Độ cao chênh lệch giữa các vùng miền núi, trung du, đồng bằng với nhiều hệ thống sông suối, tạo ra tiềm năng thuỷ điện khá phong phú…

Khí hậu

            Do sự tác động của các nhân tố: vĩ độ địa lý, quy mô lãnh thổ, vị trí trong hệ thống hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung - Ấn, hướng sơn văn, độ cao và vịnh Bắc Bộ mà Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa hè nóng, mưa nhiều có gió Tây khô nóng; mùa đông lạnh ít mưa có sương giá, sương muối lại có gió mùa Đông Bắc theo xu hướng giảm dần từ biển vào đất liền, từ Bắc xuống Nam. Đôi khi có hiện tượng dông, sương mù, sương muối làm ảnh hưởng không nhỏ tới cây trồng nông nghiệp.

            Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 - 230C, song phân hóa rất khác nhau theo từng tháng và giữa các vùng. Chênh lệch về cực trị của nhiệt độ trong năm cũng rất lớn: mùa hè, nhiệt độ tối cao có thể đạt tới 410C, song về mùa đông, nhiệt độ có thể hạ thấp xuống dưới 20C ở vùng núi, kèm theo sương giá, sương muối.

            Lượng mưa trung bình phổ biến là 1.700mm, song có một số vùng đồi núi, lượng mưa lại rất cao. Ở vùng đồi núi, tốc độ gió tương đối đều trong năm, dao động trung bình từ 1 - 2m/s. Còn ở vùng đồng bằng ven biển, tốc độ gió có thể có sự chênh lệch ở các huyện ven biển vào mùa bão lụt từ tháng 6 đến tháng 11. Do sự chi phối của địa hình và những tương tác với các vùng lân cận mà Thanh Hoá có sự phân dị về khí hậu theo vùng, với 3 vùng khí hậu đặc trưng:

            - Vùng đồng bằng, ven biển: có nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, ít xảy ra sương muối, mùa hè nóng vừa phải. Mưa ở mức trung bình và có xu hướng tăng dần từ phía Bắc vào phía Nam. Lượng mưa lớn nhất vào tháng 9 và ít nhất vào các tháng 2, 3. Mưa phùn vào các tháng cuối mùa lạnh (1, 2 và 3), đôi khi kéo dài hàng tuần lễ. Có hai thời kỳ khô ngắn và không ổn định vào đầu hè (tháng 5 và 6) và vào các tháng 10, 11. Từ tháng 7 đến tháng 11, có nhiều cơn bão xuất hiện và có thể gây ảnh hưởng lớn đến các huyện ven biển của tỉnh. Thiên tai thường xảy ra là bão, nước dâng trong bão, mưa lớn gây úng, lụt, lũ tập trung vào tháng 9 hàng năm. Hạn và rét đậm kéo dài vào thời gian từ tháng 12 đến tháng 2. Ngoài ra, lốc, vòi rồng, mưa đá có thể xảy ra ở vùng này với tần suất thấp.

            - Vùng trung du: có nhiệt độ cao vừa phải, mùa đông tương đối lạnh, có sương muối nhưng ít. Mùa hè nóng vừa phải, khu vực phía Nam nóng hơn do ảnh hưởng của gió tây khô nóng. Mưa khá nhiều, đặc biệt ở khu vực Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Thường Xuân (trên 2.000 mm/năm), Hồi Xuân (1.870mm/năm). Độ ẩm lớn, gió không mạnh lắm. Thiên tai chủ yếu là mưa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm kéo dài, lũ đột ngột, kể cả lũ bùn đá, lũ ống và lũ quét. Lượng mưa cao, có khả năng gây lũ ống, lũ quét vào tháng 7 - tháng 8.

            - Vùng đồi núi cao: bao gồm các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, phần Tây Bá Thước, Yên Khương của Lang Chánh, Yên Nhân, Bát Mọt, Xuân Khao của Thường Xuân. Nền nhiệt độ nói chung thấp, mùa đông khá rét, nhiệt độ thấp nhất có thể dưới 00C, sương muối nhiều và một số nơi có sương giá với tần suất 1 ngày/1 năm. Khi có sương giá, sương muối làm cho một số cây ăn quả có thể bị chết hàng loạt. Vào mùa hè, lũ có thể xuất hiện vào thời gian tháng 7 - 8.

            Mùa hè dịu mát, ảnh hưởng của gió tây khô nóng không lớn, biên độ nhiệt năm nhỏ, lượng mưa, số ngày mưa, mùa mưa khác biệt khá nhiều theo các tiểu vùng. Mùa đông ít mưa. Độ ẩm không lớn lắm (trừ khu vực cao trên 800m mới có độ ẩm lớn và mây mù nhiều). Gió nói chung yếu, tốc độ trung bình từ 1,3 - 2m/s.

            Lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp. Với chế độ nhiệt ẩm như vậy, đồng thời do sự phân dị phức tạp về địa hình mà Thanh Hoá có nhiều vùng có chế độ vi khí hậu khác nhau, tạo điều kiện phát triển các cây trồng nhiệt đới và cả các cây trồng á nhiệt đới, tạo nên sự đa dạng của hệ thống cây trồng. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh vùng núi phía Bắc có mùa đông lạnh, khí hậu vùng núi Thanh Hoá cũng thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối, sương giá vào mùa đông, bão, lụt, áp thấp nhiệt đới về mùa mưa và hạn hán về mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Vì vậy, việc lựa chọn cây trồng thích hợp với từng tiểu vùng khí hậu là điều cần thiết.

Mạng lưới sông suối

            - Các hệ thống sông chính: Thanh Hoá có 5 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Lạch Bạng và sông Chàng.

            + Sông Hoạt: Sông bắt nguồn từ núi Hang Cửa, vùng Yên Thịnh (Hà Trung) có diện tích lưu vực tính đến cầu Chính Đại (cách cửa sông 13km) là 250km2. Sông dài 55km, chảy qua huyện Hà Trung, thị xã Bỉm Sơn và men theo tạo địa giới giữa huyện Nga Sơn và huyện Kim Sơn (Ninh Bình). Do vị trí của sông nằm trong khu vực ít mưa (dưới 1.500mm), lại chảy qua nhiều vùng đá vôi nên dòng chảy mùa kiệt rất nghèo nàn và bị ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều. Vào mùa mưa, do địa hình lòng chảo nên sông tiêu nước chậm và thường xuyên gây úng lũ ở Hà Trung (Hà Bắc, Hà Yên, Hà Giang, Hà Vân) và Nga Sơn.

            + Sông Mã: Đây là hệ thống sông lớn nhất tỉnh. Dòng chính dài 528km, bắt nguồn từ độ cao 800 - 1.000m ở vùng Điện Biên Phủ, sau đó chảy qua Lào (118km) và vào Thanh Hoá ở phía Bắc bản Sóp Sim (Mường Lát). Chiều dài sông Mã ở địa phận Việt Nam là 410km, riêng tỉnh Thanh Hoá 242km. Toàn bộ diện tích lưu vực là 28.106km2, trong đó phần bên nước bạn Lào là 7.913km2, phần Việt Nam là 20.193km2, riêng Thanh Hoá gần 9.000km2. Sông Mã có 89 phụ lưu, các phụ lưu chính trên đất Thanh Hoá gồm suối Sim (40km), suối Quanh (41km), suối Xia (22,5km), sông Luồng (102km), sông Lò (74,5km), Hón Nủa (25km), sông Bưởi (130km), sông Cầu Chày (87,5km), sông Chu (325km). Hệ thống sông Mã có thể cho công suất lý thuyết là 1.890.020Kw, với sản lượng điện là 12,07 tỷ Kw/h. Bình quân trên 1km chiều dài, sông Mã cho 3.578Kw. Hiện đã xây dựng trên hệ thống sông Mã nhà máy thuỷ điện Cửa Đạt có công suất lắp máy 140Mw.

            + Sông Yên. Bắt nguồn từ xã Bình Lương (Như Xuân), ở độ cao 100 - 125m, chảy xuống đồng bằng Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển ở lạch Ghép. Sông dài 94,2km, trong đó gần 50km ở miền đồi núi. Diện tích lưu vực là 1.996km2. Sông Yên có 4 sông nhánh là sông Nhơm (66,9km), sông Hoàng (81km), sông Lý (27,5km) và sông Thị Long (50,4km).

            + Sông Lạch Bạng bắt nguồn từ vùng núi Huôn, xã Phú Lâm (Tĩnh Gia), ở độ cao 100m, chảy qua vùng núi Tĩnh Gia, tới Khoa Trường bắt đầu xuống đồng bằng và đổ ra biển ở cửa Bạng. Sông dài 34,5km, trong đó 18km ở vùng núi. Diện tích lưu vực là 236km2.

            + Sông Chàng. Đây là con sông duy nhất ở tỉnh đổ ra tỉnh khác (Nghệ An). Sông Chàng là một nhánh của sông Hiếu (Nghệ An). Diện tích lưu vực sông ở đoạn Thanh Hoá khoảng 250km2.

            Ngoài các sông tự nhiên trên đây, Thanh Hoá còn có một hệ thống các sông và kênh, mương nhân tạo. Thời phong kiến có hệ thống kênh đào nhà Lê. Thời hiện đại có hệ thống kênh của công trình thuỷ lợi đập Bái Thượng, các công trình thuỷ lợi Bắc sông Mã, Nam sông Mã, sông Quảng Châu, v.v...


2. Đơn vị hành chính:

Thanh Hoá có 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương gồm: 1 thành phố (Thanh Hóa), 2 thị xã (Bỉm Sơn, Sầm Sơn) và 24 huyện (Đông Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Thiệu Hóa, Triệu Sơn, Yên Định, Tĩnh Gia, Nông Cống, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Như Thanh, Như Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát).

3. Các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa

3.1. Dân tộc Thái

- Nguồn gốc và sự hình thành dân cư:

            Thế kỷ thứ XI, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" mới chép về một cộng đồng Thái tộc. Đó là một cộng đồng người gọi là Ngưu Hống, họ có chữ viết như chữ của người Ai Lao, một cư dân thuộc ngôn ngữ Tày - Thái. Bộ tộc này được xem như là tổ tiên của người Thái hiện nay. Đời vua Lê Thái Tổ (1418 - 1433) ở miền Tây Bắc Việt Nam đã có 15 - 16 đời tù trưởng (tính đến đời tù trưởng Đèo Cát Hãn) Thái trị vì - họ từ miền Bắc Hà di cư xuống đây tập trung và đông nhất là mường Then (vùng đất Điện Biên Phủ ngày nay). Xưa kia vùng đất mường Then có lẽ rộng hơn mường Tè (Lai Châu) đến sông Mã (Sơn La) và một phần tỉnh Phông Sa Lỳ nước Lào nữa. Mường Then có nghĩa là mường Trời, hầu hết dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam, ở Lào và Thái Lan đều nhận mường Then là đất tổ của mình.

            Dựa vào kho tàng truyện kể bản Mường (Quắm Tố Mương - viết bằng chữ Thái cổ trên giấy gió, giấy bản) thì tộc người Thái ở Thanh Hóa có mối quan hệ gần gũi và chặt chẽ với người Thái ở Tây Bắc. Theo nhóm tác giả (do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên) tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái "suốt trong thiên niên kỷ thứ II, các chúa đất nước Thái thuộc dòng họ Lò Khăm (tiếng Thái Đen) phân nhau ra làm các chủ mường lớn... cũng từ đó, người Thái Đen tản dần sang Lào, vào miền núi Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh..."

            Như vậy có thể khẳng định rằng, người Thái từ miền Tây theo hướng Tây Bắc - Đông Nam di cư vào Thanh Hóa, lúc đầu tập trung chủ yếu ở huyện Quan Hóa rồi dần dần tiến xuống theo dọc các dòng sông cho đến khi tiếp giáp với cư dân Mường thì dừng lại. Buổi đầu mới di cư vào "miền đất mới" ở tỉnh Thanh họ có riêng rẽ thành từng mường, mỗi mường do một người đứng đầu dòng họ cai quản, gọi là tạo mường. Trong mường thường có một vài dòng họ sinh sống - mối quan hệ kinh tế, xã hội mang tính chất thân tộc. Bởi vậy dòng họ thường được gắn liền với việc cai quản bản mường. (ví dụ như họ Hà ở mường Chanh, mường Pùng; họ Phạm ở mường Ánh, mường Ca Da...). Mối quan hệ hàng ngày mang tính chất thân tộc cộng với điều kiện kinh tế nương rẫy dần dần hình thành các mường có tính "cát cứ" khu biệt, mỗi mường như một "vương quốc" riêng theo luật lệ Thái quy định. Mỗi mường thường dựa vào sông suối hay núi cao có thung lũng để dựng bản, dựng mường. Yếu tố quyết định đến sự hình thành bản mường người Thái là "con nước" (sông suối). Tục ngữ Thái có câu "Táy kin nậm" nghĩa là Thái ăn theo nước. Ngày nay trong kho tàng truyện kể dân gian Thái rất phong phú các bài ca ngợi những người đi mở đất, xây dựng bản mường được lưu giữ lại trong cuốn "Quắm tố mương" (chuyện kể bản mường). Tục ngữ Thái có câu "o lóc có noong, xoong hương có bản"  (một vùng nước nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản). Như vậy bản là đơn vị tổ chức của một cộng đồng, một thực thể xã hội tồn tại chứa đựng nhiều mối quan hệ  của con người với tự nhiên và xã hội. Do sự hình thành cư dân Thái gắn liền là hạt nhân cấu thành bản. Bản là một tổ hợp của nhiều gia đình nhỏ (có gia đình có nhiều thế hệ, ông, cha, con, cháu cùng chung sống trong một nóc nhà). Trong bản các nóc nhà được bố trí theo kiểu "quần cư mặt tập". Nếu nhìn toàn cảnh ta thấy đầu hồi nhà nọ sát với hồi nhà kia. Phải chăng đây là tàn dư của buổi đầu dựng bản.

            Trong lịch sử hình thành bản Thái thường gắn liền sự tác động của con người với thiên nhiên và sự ra đời của tổ chức hình thái xã hội. Vì vậy, thiên nhiên và xã hội là đối tượng đặt tên cho đơn vị cư trú (bản). Đặt tên bản theo ngoại cảnh là hiện tượng phổ biến (ví dụ như núi Lát có tên là bản Lát, suối Sim có tên bản Sim) vì thế mà người ta dễ hình dung ra địa bàn cư trú của họ có đặc điểm gì là nổi bật. Ngoài hiện tượng đặt tên bản theo tự nhiên, người ta còn đặt tên bản theo ruộng và công trình thủy lợi (Na Tao - na là ruộng) cũng có nơi đặt tên bản theo hiện tượng tâm lý như bản Mòn - nghĩa là mơ ước. Từ đó ta có thể phân loại bản theo hai cách chủ yếu nhất, một là dựa vào sự tác động của con người đối với tự nhiên; hai là phân theo thành phần đẳng cấp xã hội, nhưng càng về sau thì những bản phân chia theo thành phần đẳng cấp chiếm đa số trông xã hội Thái xưa.

            Như vậy vì quyền lợi chung mà các bản đã có nhu cầu hình thành một số tổ chức xã hội liên kết. Chính nhu cầu này đã được thực hiện khi cơ cấu tổ chức của mường ra đời. Cũng chính từ quyền lợi chung mà phát sinh ra luật lệ quy định nghĩa vụ của mọi thành viên sống trong tổ chức mường - nghĩa vụ ấy gọi là việc mường. Với sự xuất hiện nghĩa vụ của các thành viên trong việc mường được coi như luật của mường, nên ngoài việc con người dồn sức lao động để tạo ra cơm áo còn có một công việc ở ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất đó là công sức bỏ ra trong việc mường - một việc có nhiều ý nghĩa trừu tượng nhưng hàm chứa ý nghĩa của cộng đồng và cho cả cộng đồng. Việc mường rất dễ bị lợi dụng cho mưu cầu lợi ích riêng, nhất là khi kẻ nắm quyền việc mường tham lam tàn ác.

            Từ chỗ do nhu cầu tất yếu phải liên kết để tồn tại và phát triển, các dòng họ cũng trên cơ sở ấy mà lớn mạnh, sự lớn mạnh phân hóa dần thành người giàu người nghèo, dựa trên cơ sở phân chia ruộng công. Giai cấp bóc lột cũng từ đó mà ra đời và nó tồn tại mãi cho đến khi hình thành cải cách dân chủ năm 1960 mới chấm dứt.

- Đặc điểm và sự phát triển:

            Người Thái ở Thanh Hóa có hai nhánh gọi là Thái trắng (Táy Dọ) và Thái đen (Táy Đăm). Người Thái trắng chủ yếu sống tập trung ở phía Tây Nam huyện Thường Xuân và một số bản giáp với Triệu Sơn. Người Thái đen chiếm đa số, sống tập trung ở các huyện Quan Hóa Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh. Dân số: 209.806 người (1/4/1999), (cả nước có 1.200.000)

            Đặc điểm của người Thái trắng và Thái đen về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở trang phục phụ nữ, Thái trắng cạp váy ngắn, phần váy thêu hình con rồng. Còn về tiếng nói chỉ khác chút ít về cách phát âm, cùng chung ngữ hệ Tày - Thái. Người Thái có chữ viết riêng, ở nhà sàn; trước đây còn có nhiều thế hệ ở chung trong một nhà, nay thì đã phân chia thành các gia đình theo cặp vợ chồng.

            Người Thái ở theo nước, bản làng trù phú đông vui có luật Mường, lệ bản quy định rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi thành viên trong cộng đồng. Ai vi phạm sẽ bị phạt bằng bạc trắng hoặc rượu, thịt, gạo, trâu, bò.

            Trước cách mạng tháng tám năm 1945, vùng cư trú của người Thái có 35 mường, thuộc 6 dòng họ: Họ Hà: 12 mường; họ Phạm Bá: 13 mường; họ Lang: 9 mường; họ Đinh: 1 mường... Trong đó mường Chiêng Vạn, mường Khô, mường Khoòng, mường Ca Da là những mường lớn vì có người của mường là Tri châu.

3.2. Dân tộc Mường
- Nguồn gốc và sự hình thành dân cư:

            Người Mường ở Thanh Hóa phân chia ra Mường trong và Mường ngoài. Người Mường trong theo quan niệm của đồng bào là mường gốc. Người Mường ngoài từ Hòa Bình chuyển vào Thạch Thành và một phần của huyện Cẩm Thủy.

            Người Mường trong coi trung tâm của mình là vùng đất Mường Ống của huyện Bá Thước. Ở đây có núi cao, sông Mã chảy qua và có nhiều hang động, có di chỉ khảo cổ Mái đá Điều. Đặc biệt vùng đất này được miêu tả kĩ trong cuốn sử thi Mường “Đẻ đất đẻ nước”. Người Mường ngoài, chủ yếu sống tập trung ở huyện Thạch Thành.

            Dựa vào tài liệu sử, khảo cổ, nhân chủng, văn học dân gian... đã được công bố thì người Mường cùng chung một nguồn gốc với người Việt cổ.

            Dân cư Mường sinh sống chủ yếu hiện nay là vùng đồi và núi thấp, có khả năng phát triển kinh tế đồi rừng. Địa bàn cư trú của người Mường ở Thanh Hoá tập trung ở các huyện: Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Như Xuân, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc, Hà Trung.

            Như vậy, ở các huyện miền núi và các miền của Thanh Hoá đều có người Mường sinh sống. Dân tộc Mường có dân số nhiều nhất (sau đó là Thái) so với các dân tộc ở miền núi Thanh Hoá.

Đặc điểm và sự phát triển:

            Người Mường ở Thanh Hoá sống tập trung ở Ngọc Lặc, Bá Thước, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành. Sau này có thiên di vào vùng núi thấp của Quan Hoá, Như Xuân, Thường Xuân và các huyện giáp ranh với miền núi.

            Người Mường ở nhà sàn, quần tụ lại thành chòm bản ở chân đồi hoặc gần sông suối. Nguồn sống chủ yếu của đồng bào dựa vào ruộng, rẫy, bãi bồi ven sông suối. Nghề chính của họ là làm ruộng, rẫy. Nghề đan lát chủ yếu là tự túc tự cấp phục vụ cho sinh hoạt trong gia đình. Người Mường có một nền văn hoá lâu đời, dân ca, dân vũ phong phú đa dạng. Người Mường chưa có chữ viết; ngôn ngữ theo nhóm ngôn ngữ Việt Mường.

            Trước Cách mạng Tháng Tám, cuộc sống của đồng bào Mường thuộc vào thổ ti lang đạo. Vùng Mường cư trú có 39 mường, thuộc 7 dòng họ cai trị:

            Họ Hà 4 mường; họ Phạm 15 mường, họ Lê Xuân 4 mường; họ Trương Công 5 mường; họ Cao 2 mường. họ Quách 2 mường; họ Nguyễn Đình 7 mường.

            Trong đó có 4 mường lớn là: mường Dược thuộc họ Nguyễn Đình; mường Lân Ru thuộc họ Quách; mường Chếch thuộc họ Lê Xuân; mường Rặc thuộc họ Phạm.

            Về hình thức tổ chức xã hội, bộ máy cai trị và các cách thức chiếm đoạt bóc lột của chế độ thổ ti lang đạo người Mường cũng tương tự như ở người Thái, chủ yếu là dựa vào thẩm quyền và cường quyền để bóc lột.

3.3. Dân tộc Mông

            Ở miền núi Thanh Hoá, các dân tộc Thái và Mường chiếm đa số và giữ - vị trí quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Còn các dân tộc H.Mông, Dao, Khơ Mú vừa ít về số lượng, đang sống cảnh du canh, du cư, cho nên liên tục có những biến động lớn. Tuy vậy, mỗi dân tộc đều có sức mạnh riêng và đều tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng thời, mỗi dân tộc lại mang sắc thái riêng làm nên sự phong phú, đa dạng của một tỉnh có nhiều dân tộc.

            Dân tộc H.Mông ở Thanh Hoá trước 1992 chỉ có một số ít, ở một số chòm. Từ năm 1992, dân tộc H.Mông ở các tỉnh phía Bắc, từ Sơn La và Lào di cư đến, sống tập trung ở xã Pù Nhi, Trung Lý (Mường Lát) theo các cụ kể lại cách ngày nay 4 - 5 đời.

            Trước đây đồng bào sống tập trung ở xã Pù Nhi có 14 chòm, một chòm Pù Dứa ở xã Quang Chiểu và một chòm Pù Nghiu ở xã Tam Chung. Có 2 dòng họ Thao và Hớ là 2 dòng họ lớn thay nhau và cùng nhau quản lí; còn các dòng họ Lâu, Sung là những dòng họ nhỏ. Sau Cách mạng Tháng Tám họ mới có điều kiện tham gia công tác xã hội.

            Người H.Mông sống du canh du cư. Sau 26 năm vận động định canh định cư ở vùng này đã đem lại cho đồng bào nhiều biến đổi. Trước năm 1945, người H.Mông chỉ có 900 người sống trên đỉnh núi Pù Nhi, vùng Toọng Ma Pa Pứng. Đến năm 1994 dân số tăng lên 5.044 người trong đó có hơn 2.000 người di cư từ năm 1992 vào (từ Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Nghĩa Lộ). (dân số năm 1999: 13.863 người, trong đó di cư từ các nơi đến từ năm 1990 đến nay khoảng 8.000 người (cả nước 558.000).

            Địa bàn cư trú của đồng bào H.Mông (cũ và mới) đều tập trung vào vùng núi cao, rừng nguyên sinh đầu nguồn sông suối. Cuộc sống dựa vào đốt rừng làm nương rẫy. Trong những năm vận động định canh định cư đồng bào có khai hoang làm ruộng, song lại bỏ vì thiếu nước.

            Tuy ở núi cao, nhưng đồng bào có phong trào đi học tốt do công lao vận động của Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Xuân Trạc. Nhờ có giáo dục phát triển nên 48 cán bộ, giáo viên người H.Mông đã được đào tạo, trong đó có người tốt nghiệp đại học. Giáo dục ở Pù Nhi đã thành điển hình giáo dục vùng cao trong cả nước.

            Đặc điểm: có tiếng nói, chữ viết riêng, có những phong tục tập quán đặc biệt để ràng buộc các thành viên trong cộng đồng. Tâm lí của người H.Mông là tư tưởng duy lí mà ta thường quen gọi là lí “mẹo”. Họ đã tin là bất biến, khó làm thay đổi được chính kiến của họ. Trong quan hệ xã hội thì vai trò dòng họ chi phối các mối quan hệ khác. Đôi khi “tộc quyền” chi phối cả “chính quyền”. Hiện nay, vùng đồng bào H.Mông cư trú gặp khó khăn nhất trong tỉnh. Đường giao thông từ huyện đến trung tâm xã, đến các làng còn là đường mòn dốc cao. Nếu như trước đây đồng bào chỉ ở các xã Pù Nhi, Quang Chiểu, thì đến năm 1992 do người H.Mông từ ngoài vào nên địa bàn lan toả ra 7 xã Sơn Thuỷ, Trung Thành, Trung Sơn, Trung Lý, Pù Nhi, Quang Chiểu, Tam Chung ở vùng cao biên giới.

3.4. Dân tộc Dao

            Đồng bào dân tộc Dao ở Thanh Hoá, theo các cụ già kể lại (và có một số dòng họ còn giữ được gia phả), là từ Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Quảng Ninh chuyển vào khoảng 4 đến 5 đời.

            Khi mới chuyển vào Thanh Hoá, đồng bào sống ở vùng núi cao của huyện Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh. Từ 1968 có cuộc vận động định canh, định cư, vận động đồng bào xuống núi. Từ các đỉnh núi cao đồng bào tự nguyện sống thành từng xóm lẻ cho đến nay.

            Ở vùng cao huyện Mường Lát có 2 nhóm: Chòm Suối Tút (xã Quang Chiểu) và chòm Pù Quăn (xã Pù Nhi), cả 2 chòm có 430 người. Nhóm này gọi là Dao Tiền.

            Ở vùng núi thấp của huyện Ngọc Lặc có 3 chòm của 3 xã Phùng Minh, Ngọc Khê và Thạch Lập dân số 1.274 người. Ở huyện Cẩm Thuỷ có 6 chòm thuộc các xã Cẩm Châu, Cẩm Bình và Cẩm Liên, dân số 2.619 người. Nhóm này gọi là Dao Quần Chẹt. Tổng số dân tộc Dao 4.323 người (1994). Năm 1999 có 5.031 người (cả nước 470.000).

            Hiện nay cả 11 chòm đều trong vùng vận động định canh, định cư. Đồng bào sống thành từng bản lẻ, xen ghép với đồng bào dân tộc Mường, H.Mông.

            Tuy là cư dân sống du canh, du cư và nay là định cư, du canh, nhưng khả năng tiếp nhận và giao tiếp với xã hội bên ngoài của đồng bào rất nhạy bén, trình độ hiểu biết cao hơn so với các dân tộc xung quanh.

            Đồng bào Dao dùng chữ Nho để ghi chép, khi đọc phát âm theo tiếng Dao. Ở các chòm đều có người biết chữ Nho, có nơi đã truyền dạy lại cho con cháu. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông Dao.

            Trong quan hệ xã hội đáng chú ý là quan hệ dòng họ. Người Dao ở Thanh Hóa có họ Đại Triệu là họ lớn ngoài ra còn có họ Bàn, họ Phan, họ Phùng.

            Hàng năm đồng bào có làm lễ cấp sắc cho những thành viên trong họ nhằm tăng thiết chế đồng tộc. Trong quan niệm của đồng bào Dao, người nào chưa đưọc cấp sắc thì được tôn trọng, đã cấp sắc rồi thì phải sống chết với đồng tộc.

            Nhà cửa đồng bào làm theo kiểu nửa sàn, nửa đất. Đến nay, trừ 2 chòm ở vùng cao, đồng bào Dao ở vùng thấp làm nhà theo kiểu chồng giường bẩy kẻ, theo kiểu nhà người Kinh.

            Nguồn sống của đồng bào dựa vào nương rẫy, thực hiện định canh định cư. Đồng bào đã đắp hồ đập xây dựng đồng ruộng, làm vườn nhà, vườn rừng. Các nhóm đều có lớp học cho các em nhỏ, đến nay đã có nhiều người có trình độ đại học.

            Tuy sống xen ghép với dân tộc đông người, nhưng bản sắc dân tộc Dao không bị pha trộn. Họ vẫn giữ được tính độc đáo, riêng biệt. Hàng năm đồng bào vẫn tổ chức lễ hội truyền thống. Các bài hát, điệu múa vẫn được truyền lại cho con cháu.

3.5. Dân tộc Khơ Mú

            Bộ phận dân tộc Khơ Mú ở Thanh Hoá, từ xã Tranh Đấu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La chuyển đến, cách đây khoảng 70 năm - 100 năm. Có 2 chòm, chòm Lách ở xã Mường Chanh và chòm Đoàn Kết ở xã Tén Tần huyện Mường Lát Hai chòm này sát đường biên người Việt - Lào. Dân số 2 chòm có 558 người. Năm 1999: 642 người (cả nước có 43.000 nguời).

            Đây là dân tộc thiểu số vào loại đặc biệt khó khăn của tỉnh. Về tên gọi có 4 tên khác nhau. Đồng bào tự gọi mình là Khơ Mú, các dân tộc khác gọi là dân tộc Tình, Đoàn Kết. Dân tộc Khơ Mú Thanh Hoá kiêng không được gọi họ là dân tộc Xá (vì danh từ xá họ cho là từ miệt thị ).

            Người Khơ Mú ở tỉnh Thanh Hoá có 5 dòng họ, mỗi dòng họ đều kiêng một “con” hay một “cây”.

                        Họ Lương kiêng con cọp.

                        Họ Lò kiêng chim “tăng lo”.

                        Họ Chinh kiêng cây “tu vạ cút”.

                        Họ Pít kiêng chim “rích”.

                        Họ Tơmong kiêng con “cầy cun”.

            Mối quan hệ dòng họ rất nghiêm ngặt. Tộc trưởng có quyền quyết đoán mọi chuyện. Người Khơ Mú hầu như chỉ quan hệ với bên ngoài về kinh tế như trao đổi mua bán các mặt hàng gia dụng, thuốc men. Còn quan hệ tình cảm, văn hoá khép kín trong đồng tộc. Họ có tư tưởng tự ti, mặc cảm vì cho rằng mình quá lạc hậu và “xấu... Khó khăn nhất hiện nay là họ không có người “cúng” và trai gái thành niên khó khăn trong việc lấy vợ lấy chồng vì chỉ ở chòm bản đều là anh em họ hàng.

            Hiện nay đường vào chòm bản đã mở rộng thông suốt, xe máy có thể qua sông vào chòm được. Từ năm 1993, nhờ thực hiện dự án đầu tư hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, làng bản đã quy hoạch xây dựng mới, có đường sá, có nước sạch, có trạm thu hình chương trình truyền hình Việt Nam, có trường học cho trẻ em học sinh cấp I. Có chi bộ Đảng, dân tộc Khơ Mú không có chữ viết, tiếng nói theo nhóm ngôn ngữ Khơ Me.

3.6. Dân tộc Thổ

            Dân tộc Thổ tập trung ở huyện Như Xuân gồm các xã Yên Lễ, Yên Cát, Cát Tân, Cát Vân, Bình Lương, Xuân Bình thị trấn Bãi Trành, Thượng Ninh, Tân Bình, Hoá Quỳ, Xuân Quỳ, Dân số: 7.642 (năm 1994). Năm 1999: 9.464 người (cả nước có 51.000).

            Người Thổ quê ở Thanh Hoá chỉ có một họ duy nhất là họ Lê. Người Thổ có nhiều nét gần với người Mường và người Kinh.

Theo thanhhoa.gov.vn

Ý kiến bạn đọc
Bình luận: