Xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường cho sản phẩm chè VietGAP

Từ niềm đam mê với cây chè, sau thời gian ngược xuôi đi thu mua chè búp tại nhiều tỉnh, thành phố, ông Bàn Văn Dương, dân tộc Dao, tại thôn 5, xã Tân Thành, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định khởi nghiệp làm chè tại chính quê hương mình. Vượt qua nhiều khó khăn, Giám đốc Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 Bàn Văn Dương đã thành công trong việc xây dựng thương hiệu và đưa nhiều sản phẩm chè búp Tân Thành vào các cửa hàng tiện lợi, gian hàng giới thiệu sản phẩm và nhiều siêu thị trên cả nước.

vna_potal_tuyen_quang_giam_doc_nguoi_dao_mo_rong_thuong_hieu_che_bup_kho_tan_thanh__7617240.jpg
Ông Bàn Văn Dương, Giám đốc HTX Chè Tân Thái 168, xử lý cho chè khô lá, ráo nước sau khi thu mua. Ảnh: Hoàng Hải - TTXVN

Hành trình xây dựng thương hiệu

Theo ông Bàn Văn Dương, năm 2012, ông bắt đầu làm nghề chè và đi hầu hết các vùng trồng chè ở Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên… để thu gom, bán cho các tỉnh từ Thanh Hóa, Nghệ An đến Quảng Bình, Quảng Trị. Đi nhiều nơi, ông Dương nhận thấy để tìm được nguồn chè sạch, chè ngon không hề đơn giản.

Thời điểm ấy, chè ở Tân Thành thơm ngon, đậm vị, nhưng chưa có “tiếng” trên thị trường. Với kinh nghiệm giao hàng và thị trường ổn định, năm 2013, ông Dương quyết định thành lập Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 và đảm nhận vai trò giám đốc. Đây cũng là hợp tác xã sản xuất, chế biến chè đầu tiên của xã Tân Thành, huyện Hàm Yên.

Hiện tại, hợp tác xã đang liên kết cùng trên 50 hộ dân với tổng diện tích trên 30 ha. Theo Giám đốc Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 Bàn Văn Dương, để tạo ra sản phẩm chè có chất lượng, tư duy canh tác cây chè của người dân phải thay đổi. Do vậy, ông đã mở các lớp tập huấn về sản xuất chè an toàn cho người nông dân, thành lập các tổ sản xuất để thuận lợi trong quản lý và theo dõi. Đồng thời, cung ứng các loại phân bón, chế phẩm sinh học theo tiêu chuẩn VietGAP…, đảm bảo cây chè được chăm sóc đúng kỹ thuật, có chất lượng và hương vị ổn định.

vna_potal_tuyen_quang_giam_doc_nguoi_dao_mo_rong_thuong_hieu_che_bup_kho_tan_thanh__7617244.jpg
Ông Bàn Văn Dương (trái), Giám đốc HTX Chè Tân Thái 168, giới thiệu các sản phẩm chè búp khô với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hàm Yên (Tuyên Quang). Ảnh: Hoàng Hải - TTXVN

Ông Ninh Văn Tuyên, Tổ phó tổ chè VietGAP, Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 chia sẻ, tổ hiện có 30 thành viên với trên 16 ha chè. Mỗi năm các thành viên trong tổ sử dụng trên 40 tấn phân bón, chế phẩm sinh học. Các thành viên cần hỗ trợ về phân bón đều được hợp tác xã hỗ trợ cung ứng đầy đủ theo hình thức “trả chậm bằng sản phẩm” không lấy lãi. Đây là một trong những động lực giúp bà con gắn bó và chăm chút cho cây chè.

Gia đình anh Phùng Thanh Độ (thôn 5, xã Tân Thành) cho hay, gia đình anh đang liên kết trồng hơn 1ha chè với Hợp tác xã Chè Tân Thái 168. Nhờ sản xuất theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, cây chè cho thu hoạch từ 10 - 12 lứa/năm, được hợp tác xã bao tiêu với giá bán ổn định từ 120 - 150.000 đồng/kg. Mỗi năm, gia đình anh Độ thu về trên 150 triệu đồng. Bên cạnh đó, vào mùa vụ thu hái, anh Độ còn tạo việc làm cho 5 - 7 nhân công, với thù lao từ 150 - 200.000 đồng/người/ngày.

vna_potal_tuyen_quang_giam_doc_nguoi_dao_mo_rong_thuong_hieu_che_bup_kho_tan_thanh__7617247.jpg
Các giống chè HTX Chè Tân Thái 168 liên kết thu mua chủ yếu là chè Trung du, chè lai LDP1. Ảnh: Hoàng Hải - TTXVN

Ông Bàn Văn Dương, Giám đốc Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 cho biết, năm 2017, sản phẩm chè của hợp tác xã được chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa và dán tem truy xuất nguồn gốc. Hiện nay, hợp tác xã cung cấp 8 sản phẩm chè xanh OCOP 3 sao, với giá bán giao động từ 200.000 - 600.000 đồng/kg. Các sản phẩm chè của hợp tác xã đã có mặt tại nhiều siêu thị, cửa hàng tiện lợi, hệ thống bán hàng OCOP trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Đồng thời, sản phẩm chè xanh của Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 cũng bày bán tại nhiều siêu thị và được người tiêu dùng Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Bình, Quảng Trị, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu… đón nhận.

Nâng tầm chất lượng

Trước đây, các hộ dân liên kết với Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 chủ yếu trồng chè Trung du và chè lai LDP1. Theo ông Bàn Văn Dương, đây đều là những giống chè có thân cây khỏe, dễ chăm sóc, có khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh, chịu được rét và nóng, tuổi cây cao... Sản phẩm trà có màu sắc đẹp, vị thơm, ngọt hậu. Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất đòi hỏi đa dạng hóa sản phẩm chè với chất lượng ngày càng tăng. Năm 2022, ông Bàn Văn Dương đã trồng thử nghiệm hơn 4 sào giống chè Long Vân và trên 1 ha chè giống PH8. Đây là những giống chè cho chất lượng tốt, phục vụ sản xuất chè xanh phân khúc cao cấp.

Đưa chúng tôi đi thăm vườn chè Long Vân 2 năm tuổi, ông Bàn Văn Dương chia sẻ, giống chè Long Vân được đánh giá là “khó tính và khó chiều” nhất, nhưng cũng là giống chè ngon nhất, cho giá trị cao nhất hiện nay. Để có những cây chè Long Vân phát triển tốt, lá xanh đẹp, búp non, khỏe, ông Dương đã phải tìm hiểu kỹ càng, chăm sóc hoàn thoàn theo hướng hữu cơ và lắp đặt hệ thống tưới nước tự động để đảm bảo cây được cấp nước đầy đủ.

Cũng theo ông Bàn Văn Dương, với nhiều ưu điểm như uống không xót ruột, tốt cho tim mạch, chống lão hóa và ung thư nên giá thành của chè Long Vân cũng cao hơn các giống chè thông thường. Vào chính vụ, nếu chè búp bình thường giá thành chỉ từ 300 - 500.000 đồng/kg thì chè Long Vân có giá 1 triệu đồng/kg. Trong năm nay, Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 có kế hoạch trồng mới 2,5ha chè Long Vân. Đây là nguồn nguyên liệu để hợp tác xã thực hiện xây dựng thương hiệu sản phẩm chè xanh Tân Thái 168 trở thành sản phẩm OCOP 5 sao trong những năm tới.

Hiện nay, Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 xuất ra thị trường từ 20 - 25 tấn chè với doanh thu trên 3 tỷ đồng/năm. Trong thời gian tới, để tiếp tục duy trì, phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm chè, ông Bàn Văn Dương cho biết thêm, bên cạnh việc đưa những giống chè cao cấp vào canh tác, ông sẽ chủ động phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền vận động người dân thay đổi các giống chè mới cho năng suất, chất lượng tốt hơn như PH1, PH8… Qua đó, hướng tới mục tiêu sản xuất đại trà trà xanh phân khúc tầm trung và cao cấp, góp phần nâng cao thương hiệu và giá trị cho cây chè ở Tân Thành nói riêng và sản phẩm chè Tuyên Quang nói chung, giúp tăng thu nhập cho người trồng chè, thúc đẩy kinh tế tại địa phương.

Ông Trần Văn Bảo, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành, huyện Hàm Yên khẳng định, cây chè đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực tạo thu nhập ổn định cho người nông dân ở xã Tân Thành. Toàn xã hiện có 131 ha chè, năng suất gần 90 tạ/ha, cá biệt có những nơi đạt trên 180 tạ/ha. Mỗi ha chè cho thu nhập từ 120 - 180 triệu đồng/năm. Những mô hình liên kết như Hợp tác xã Chè Tân Thái 168 nhận bao tiêu sản phẩm, ổn định đầu ra là điều kiện quan trọng giúp người nông dân gắn bó, phát triển kinh tế, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu từ cây chè...

Hoàng Hải

(TTXVN)
Dân tộc Dao Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Có thể bạn quan tâm