Giữ bản sắc qua chiếc nón bằng chất liệu tre nứa

Giữ bản sắc qua chiếc nón bằng chất liệu tre nứa
Anh Dư giới thiệu cho chị em trong xã sản phẩm của mình. Ảnh: K.K.S
Anh Dư giới thiệu cho chị em trong xã sản phẩm của mình. Ảnh: K.K.S
 
Ở các bản làng miền Tây Quảng Trị, phần lớn dụng cụ phục vụ sinh hoạt hàng ngày như pả điên, a chói, a đư, cà ria, ưk khău… đều được đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây đan bằng mây, tre nứa.
 
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, nét đẹp truyền thống này vẫn trường tồn và tạo nên bản sắc riêng của người Bru-Vân Kiều, Pa Kô (một nhánh của dân tộc Tà Ôi). Anh Hồ Dư (Ăm Dơi,  45 tuổi) ở thôn Húc, xã A Túc, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), là nghệ nhân có niềm đam mê đan lát.
 
Năm 2015, trong một lần đan a nooi (cái hoong cơm nếp), anh chợt nảy sinh ý tưởng từ cách đan a nooi có thể cải tiến sang đan chiếc đoan (nón) một cách khá dễ dàng. Ngay sau đó, anh đem suy nghĩ của mình đến gặp Ăm Rủa (80 tuổi), một nghệ nhân đan lát lâu năm ở thôn để trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau làm ra chiếc nón mang phong cách khá độc đáo.
 
Sau gần 1 tuần mày mò, hai nghệ nhân này bước đầu thành công với chiếc nón đan bằng tre nứa. Nếu như cái hoong cơm nếp khi đan phải đảm bảo độ dày 2 lớp ở phần đáy thì đan chiếc nón chỉ cần 1 lớp ở phần đáy (gọi là chóp nón) là đủ. Tuy nhiên, việc uốn tre nứa sao cho chóp nón vừa có độ tròn, vừa đảm bảo độ nhọn đòi hỏi đôi tay nghệ nhân phải hết sức khéo léo.
 
Chiếc nón của anh Dư và ông Ăm Rủa đan theo hình trụ, có 3 cạnh, uốn tròn vành và thân nón bằng tay. Nón gồm có 3 vòng nón (từ to đến nhỏ), thân nón và chóp nón. Để đảm bảo độ bền, không bị thấm nước khi đội dưới trời mưa, các nghệ nhân nghĩ ra cách  bọc một lớp ni lon phía ngoài mặt nón rồi bọc thêm một lớp bao dệt (dùng đựng gạo) ngoài lớp ni lon, sau đó dùng sơn véc ni quét lên lớp bao dệt tạo thẩm mỹ cho nón.
 
Anh Dư chia sẻ: “Dụng cụ làm nón tre nứa rất đơn giản, chúng tôi dùng rựa sắc để chặt, chẻ, vót tre, nứa; dùng kéo và kìm để cắt phần thừa, tạo thẩm mỹ cho nón. Đan loại nón này khá dễ và nhanh hơn đan cái hoong cơm nếp vì quá trình đan chúng tôi không cần dùng đến khung làm nón, vật liệu thì chỉ cần bỏ ra một buổi vào rừng chặt tre nứa là đan đủ cho cả tuần.
 
Tuy nhiên, vì ở vùng sâu nên quá trình đan nón chúng tôi không mua được các sợi dây cước hay dây dù kết nón mà tận dụng các sợi dây từ bao dệt để kết nón cho chắc chắn”. Ngay sau khi sản phẩm đầu tay của anh Dư và Ăm Rủa ra đời, nhiều người dân trong thôn, trong xã đã đến xem và đặt hàng.
 
Chị Hồ Thị Dài ở thôn Pa Lu, xã A Túc, nói: “Tôi có nhờ Ăm Rủa đan giúp một chiếc nón để đội đi làm nương, rẫy. Gần 2 năm rồi mà chiếc nón vẫn còn dùng rất tốt. Tôi thấy loại nón này rất phù hợp với những người thường xuyên đi lao động ngoài trời.
 
Nón tre nứa dày dặn nhưng không nặng đầu, khi đội nón tôi luôn có cảm giác thoải mái. Loại nón này cũng rất tiện, mỗi lúc ngồi nghỉ ở dưới lán hay dưới tán cây mà trời nắng nóng chúng tôi có thể dùng nón thay cho cái quạt tay.
 
Thấy hiệu quả từ chiếc nón tre nứa này, bây giờ, phần lớn chị em ở cụm thôn Húc, Pa Lu đều đặt hàng anh Dư và Ăm Rủa đan để đội”.
 
Sau một thời gian ngắn thành công từ khi đan nón bằng tre nứa, trong năm 2015 anh Dư và Ăm Rủa được Dự án Y tế Hà Lan mời tham dự trưng bày sản phẩm đan lát ở Huế cùng với các nghệ nhân ở huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế.
 
Tại đây, sản phẩm của họ được đánh giá cao vì vừa lạ, vừa bền. Em Hồ Văn Tháng, gọi anh Dư là cậu ruột hiện đang học tại Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị rất thích thú với chiếc nón tre nứa do anh Dư làm ra.
 
Vì thế, mỗi lần nghỉ học về nhà là Tháng tìm đến nhà nhờ cậu bày cách đan. Bây giờ, Tháng rất vui vì mình đan được nón thành thạo, quyết tâm cùng cậu  duy trì và phát huy nghề đan lát truyền thống.
 
Ở miền núi, đa số các nghệ nhân đan lát chủ yếu phát huy nghề của mình trong các dịp như lễ, tết, mỗi khi vật dụng trong nhà bị hư, đan thêm để tiện có đồ dùng thường nhật hoặc có ai nhờ đan giúp. Nhu cầu mua sắm các đồ dùng tre nứa của người dân nơi đây không cao, bởi vậy các nghệ nhân không sống dựa vào nghề đan lát mà cuộc sống hàng ngày của họ chỉ nhờ vào chăn nuôi, trồng trọt.
 
Anh Dư cho biết thêm: “Với khả năng của tôi và Ăm Rủa, 1 ngày có thể đan được 2 chiếc nón, bình quân 1 chiếc có giá 50 nghìn đồng. Nếu có khách hàng thường xuyên, chúng tôi có thể thu nhập được từ 2,5 - 3 triệu đồng/tháng từ việc đan nón. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có chị em trong thôn và xã đặt làm nón nên sản phẩm của chúng tôi chưa vượt ra khỏi địa phương. Tôi rất muốn được tham gia các lớp tập huấn trang trí, vẽ các họa tiết lên nón tre nứa. Tôi cũng rất mong các cấp, các ngành quan tâm hỗ trợ các điều kiện để chúng tôi có thể phát triển và quảng bá sản phẩm của mình rộng rãi. Một khi có nhiều khách hàng, chúng tôi có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định hơn”.
 
Bấy lâu nay ở xã A Túc nói riêng và các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh nói chung, nghề đan lát còn phát triển nhỏ lẻ, manh mún bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.
 
Để giúp người dân vùng khó giải quyết được đầu ra cho sản phẩm đan lát thì trước mắt, các cơ quan chức năng cần hỗ trợ cho họ thành lập tổ hợp tác sản xuất hoặc nhóm sản xuất các đồ dùng đan lát, trong đó có những sản phẩm làm điểm nhấn như nón tre nứa, pả điên, a chói.
 
Tổ chức các lớp dạy nghề đan lát do các nghệ nhân có nhiều kinh nghiệm trực tiếp truyền đạt cách đan các sản phẩm truyền thống của người Vân Kiều, Pa Kô cho thanh niên địa phương; hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi để người dân tự chủ về nguồn kinh phí đầu tư sản xuất…
 
Đây cũng chính là điều kiện để thu hút các nghệ nhân làm nghề đan lát truyền thống và thế hệ trẻ tại thôn bản tham gia học nghề, góp phần giữ gìn, phát huy nghề truyền thống của cha ông để lại.
 
Đồng thời, việc phát triển các điểm sản xuất sản phẩm đan lát cũng là điều kiện để phát triển du lịch ở địa phương; tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các nghệ nhân là người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.
Theo baoquangtri.vn

Có thể bạn quan tâm

Khai mạc Hội chợ thương mại và sản phẩm OCOP tỉnh Phú Thọ năm 2025

Khai mạc Hội chợ thương mại và sản phẩm OCOP tỉnh Phú Thọ năm 2025

Nằm trong chương trình Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần văn hóa du lịch – Đất Tổ 2025, tối 2/4, tại sân vận động Bảo Đà, thành phố Việt Trì, Ban Tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương và Tuần văn hóa du lịch – Đất Tổ 2025, Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội chợ thương mại và sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) tỉnh Phú Thọ năm 2025

Tiền Giang phát triển vùng chuyên canh nuôi nghêu xuất khẩu

Tiền Giang phát triển vùng chuyên canh nuôi nghêu xuất khẩu

Với lợi thế 32 km bờ biển, tỉnh Tiền Giang đã hình thành và phát triển vùng chuyên canh nuôi nghêu trên địa bàn huyện Gò Công Đông có diện tích 2.200 ha, tập trung tại xã Tân Thành, sản lượng khai thác bình quân hàng năm đạt khoảng 20.000 tấn. Nghêu Gò Công có chất lượng tốt, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng.

Gia Lai phát triển cà phê đặc sản thay vì chỉ xuất khẩu thô

Gia Lai phát triển cà phê đặc sản thay vì chỉ xuất khẩu thô

Hiện nay, Gia Lai sở hữu hơn 57.000 ha cà phê đạt các chứng nhận 4C, UTZ, Rainforest, Organic, chiếm trên 53% tổng diện tích cà phê của tỉnh. Thay vì dừng lại ở vai trò xuất khẩu nguyên liệu thô, Gia Lai đang dần hình thành hướng đi mới trong hành trình phát triển cà phê đặc sản, thông qua việc đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm, đồng hành cùng chính quyền và ngành nông nghiệp.

Trồng khoai lang lãi từ 130-150 triệu đồng/ha ở Gia Lai

Trồng khoai lang lãi từ 130-150 triệu đồng/ha ở Gia Lai

Những ngày này, trên khắp cánh đồng huyện Phú Thiện (tỉnh Gia Lai), không khí thu hoạch khoai lang diễn ra nhộn nhịp. Niên vụ Đông Xuân 2024-2025, bà con nông dân không chỉ vui mừng vì năng suất cao mà giá thu mua cũng tăng mạnh, mang lại nguồn thu nhập đáng kể.

Bảo tồn và phát triển nguồn gen cây chè cổ núi Bóng

Bảo tồn và phát triển nguồn gen cây chè cổ núi Bóng

Tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có quần thể cây chè cổ thụ với tuổi đời hàng trăm năm. Để làm sáng tỏ nguồn gốc, giá trị của giống chè, chính quyền tỉnh và các nhà khoa học đang tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, bảo tồn, phát triển nguồn gen chè cổ, mở ra hành trình gìn giữ, phát huy giá trị của giống chè quý hiếm này trên mảnh đất “Đệ nhất danh trà”.

"Mỗi xã một sản phẩm" - Động lực mới cho phát triển kinh tế nông thôn Thái Bình

"Mỗi xã một sản phẩm" - Động lực mới cho phát triển kinh tế nông thôn Thái Bình

Với tiềm năng và thế mạnh sẵn có trong sản xuất nông nghiệp, tỉnh Thái Bình đang ghi dấu ấn đậm nét trong việc triển khai hiệu quả Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP). Chương trình đang là động lực quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân và xây dựng nông thôn mới bền vững.

Đồng Tháp đưa toàn bộ sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử

Đồng Tháp đưa toàn bộ sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử

Ông Huỳnh Minh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cho biết, đến nay, tỉnh có 581 sản phẩm được công nhận OCOP (464 sản phẩm 3 sao, 116 sản phẩm 4 sao và 1 sản phẩm 5 sao) của 246 chủ thể duy trì kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử; 100% sản phẩm OCOP được duy trì trên các sàn thương mại điện tử.

Đồng Tháp bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống

Đồng Tháp bảo tồn, phát triển các làng nghề truyền thống

Nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa, truyền thống, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu, tỉnh Đồng Tháp quan tâm bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.

Đại Từ phát triển kinh tế nhờ trồng chè gắn với du lịch

Đại Từ phát triển kinh tế nhờ trồng chè gắn với du lịch

Huyện Đại Từ được thiên nhiên ưu ái ban tặng cảnh quan độc đáo với những dãy núi cao hùng vĩ, những hồ nước, thác nước tự nhiên đẹp hoang sơ làm say đắm lòng người và nổi tiếng với nhiều sườn đồi phủ xanh màu lá chè. Tận dụng được thế mạnh đó mà huyện đã phát triển được nhiều khía cạnh kinh tế như nông nghiệp, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng không chỉ tạo nên văn hóa trà độc đáo mà còn góp phần đưa huyện ngày một đi lên, khẳng định thương hiệu trà Thái Nguyên nói chung.

Hồi sinh vùng đất từng bị bom đạn tàn phá

Hồi sinh vùng đất từng bị bom đạn tàn phá

Sau 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, huyện Đầm Dơi (Cà Mau) đã có nhiều đổi thay. Từ vùng đất vốn bị bom đạn tàn phá, nay đã trở thành những vùng nuôi trồng thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện và vùng nuôi trọng điểm của tỉnh.

Gia Lai và hành trình từ vùng đất khó trở thành "thủ phủ" mía đường

Gia Lai và hành trình từ vùng đất khó trở thành "thủ phủ" mía đường

Gia Lai đang sở hữu vùng nguyên liệu mía khoảng 45.000 ha, trải dài khắp các vùng phía Đông và Đông Nam tỉnh. Vùng Đông Trường Sơn bao gồm thị xã An Khê và các huyện Kbang, Đăk Pơ, Kông Chro, từng được biết đến là vùng đất khó với những cánh đồng khô cằn chủ yếu trồng các loại cây ngắn ngày như sắn, đậu phộng, ngô hiệu quả kinh tế thấp. Tuy nhiên, những năm qua, khu vực này đã có sự chuyển mình mạnh mẽ để trở thành vùng nguyên liệu mía lớn nhất nước với gần 32.000 ha, mang lại sinh kế ổn định cho hàng nghìn hộ dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Nghệ nhân trăn trở “giữ lửa” nghề truyền thống ở Thái Bình

Nghệ nhân trăn trở “giữ lửa” nghề truyền thống ở Thái Bình

Thái Bình có hơn 140 làng nghề được UBND tỉnh công nhận. Việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống luôn được tỉnh quan tâm, chú trọng, trong đó không thể thiếu vai trò của các nghệ nhân - “báu vật sống” nắm giữ tinh hoa của làng nghề. Nhờ tinh thần sáng tạo và tâm huyết của họ, nhiều làng nghề đã “hồi sinh” mạnh mẽ trước nguy cơ bị mai một.

Đồng bào Mông ở Suối Bu thoát nghèo từ cây măng tre bát độ

Đồng bào Mông ở Suối Bu thoát nghèo từ cây măng tre bát độ

Trong những năm gần đây, cây măng tre bát độ đã trở thành "cây xóa đói giảm nghèo" cho đồng bào Mông tại xã Suối Bu, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi, cây măng tre Bát độ không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn giúp cải thiện đời sống của người dân nơi đây.

Món cà đắng lòng gà bọc lá chuối của người Jrai

Món cà đắng lòng gà bọc lá chuối của người Jrai

Ẩm thực của người Jrai ở Gia Lai luôn độc đáo với những món ăn ngon, dân dã, đậm nét truyền thống. Trong số đó, món cà đắng lòng gà bọc lá chuối nổi bật như một biểu tượng của sự sáng tạo và gắn kết với thiên nhiên.

Một số sản phẩm OCOP tiêu biểu của Bình Phước. Ảnh: K GỬIH

Bình Phước khai thác giá trị sản phẩm OCOP

Thực hiện chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (chương trình OCOP), nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã đẩy mạnh khai thác giá trị sản phẩm nông sản, từng bước xây dựng thương hiệu OCOP Bình Phước.

Gìn giữ món bánh bạc đầu truyền thống của người Sán Dìu

Gìn giữ món bánh bạc đầu truyền thống của người Sán Dìu

Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu tại Quảng Ninh sở hữu những đặc trưng riêng, thể hiện sự khéo léo, tinh tế trong chế biến, phối hợp các thực phẩm. Một trong những món ăn đặc sắc đó là bánh bạc đầu đã trở thành đặc sản nổi tiếng. Thưởng thức các món bánh thơm ngon và tìm hiểu về văn hóa độc đáo của người Sán Dìu ở vùng cao Quảng Ninh là trải nghiệm đáng nhớ.

Sản phẩm tiêu biểu của Cao Bằng vươn xa nhờ đa dạng kênh tiêu thụ

Sản phẩm tiêu biểu của Cao Bằng vươn xa nhờ đa dạng kênh tiêu thụ

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Thời gian tới, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến thương mại, thúc đẩy liên kết tiêu thụ sản phẩm OCOP, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm chủ lực ở địa phương.

Kiên Giang tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường sản phẩm OCOP

Kiên Giang tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường sản phẩm OCOP

Thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Kiên Giang triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển gắn với nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm. Từ đó, số lượng sản phẩm OCOP của tỉnh không ngừng tăng, đặc biệt các sản phẩm từ 3 sao tăng lên 4 sao thời gian gần đây tăng mạnh, giúp tăng sức cạnh tranh hàng hóa, nâng cao thu nhập người dân nông thôn.

Bình Phước xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP

Bình Phước xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP

Để sản phẩm thuộc Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tăng dần về lượng và chất qua từng năm, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước Trần Tuyết Minh đã đề nghị các ngành chức năng tiếp tục nghiên cứu, có những giải pháp hỗ trợ phát triển các sản phẩm OCOP thế mạnh của tỉnh. Các sở, ngành, địa phương cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng gắn với đẩy mạnh tuyên truyền, tạo điều kiện cho người dân, hợp tác xã tham gia xây dựng, phát triển sản phẩm OCOP, góp phần giới thiệu, quảng bá cũng như tăng thêm tính cạnh tranh cho nông sản Bình Phước trong quá trình hội nhập.

Nhiều hộ dân chuyển sang làm những sản phẩm đan lát có giá trị cao phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Ảnh: Tuấn Kiệt - TTXVN

Bạc Liêu bảo tồn làng nghề gắn với phát triển du lịch

Dù tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng ngàn lao động tại khu vực nông thôn nhưng các làng nghề của tỉnh Bạc Liêu đang bị mai một, nhiều làng nghề hoạt động cầm chừng. Trước thực trạng như vậy, tỉnh Bạc Liêu đang triển khai thực hiện nhiều giải pháp để duy trì và phát triển các làng nghề, trong đó xác định bảo tồn làng nghề phải gắn với phát triển du lịch.

Sau hơn 6 năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tại tỉnh Yên Bái phát triển mạnh mẽ, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. Ảnh: TTXVN phát

Yên Bái gia tăng giá trị và thương hiệu cho các sản phẩm OCOP

Sau hơn 6 năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tại tỉnh Yên Bái phát triển mạnh mẽ, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, dần hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chuỗi liên kết để nâng cao giá trị đặc sản của nông sản, đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân và xây dựng nông thôn mới.

Nuôi cá tầm, hướng giảm nghèo bền vững ở vùng cao Hà Giang

Nuôi cá tầm, hướng giảm nghèo bền vững ở vùng cao Hà Giang

Khu vực đèo Gió (xã Nấm Dẩn, huyện Xín Mần, Hà Giang) với khí hậu và nguồn nước thuận lợi, thích hợp với mô hình nuôi cá nước lạnh. Tận dụng lợi thế đó, huyện Xín Mần đã cho chủ trương phát triển các chuỗi liên kết nuôi cá tầm với nhiều hộ dân tham gia. Đây không chỉ là mô hình kinh tế mới đầy hứa hẹn giúp người dân cải thiện sinh kế, mà còn là một phần của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho các vùng miền núi, mở ra cơ hội để người dân Nấm Dẩn thoát nghèo.

 Tham vọng đưa Buôn Ma Thuột trở thành điểm đến của cà phê thế giới

Tham vọng đưa Buôn Ma Thuột trở thành điểm đến của cà phê thế giới

Cà phê là loại nông sản đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, đem lại nguồn sinh kế cho người dân, nhất là người dân vùng Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Lắk nói riêng; trong đó, Buôn Ma Thuột được mệnh danh là “Thủ phủ Cà phê của Việt Nam”, vì vậy địa phương “tham vọng” trở thành điểm đến của cà phê thế giới. Đây là thông tin được đại diện UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết trong khuôn khổ chuỗi hoạt động và họp báo công bố thông tin Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025, tại Tp. Hồ Chí Minh, ngày 21/2.

Ảnh minh họa: baobinhdinh.vn

Bình Định xây dựng thương hiệu cho sản phẩm dừa đặc sản

Tỉnh Bình Định đang có những giải pháp thúc đẩy phát triển ngành dừa nhằm hướng tới nâng cao giá trị, thương hiệu cho “đặc sản” này. Nổi bật là thị xã Hoài Nhơn - nơi được mệnh danh là một trong những vựa dừa lớn nhất của cả nước.