Thứ 5, 23/11/2017, 5:19 GMT+7
Đề xuất các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn
21:11, 01/09/2017
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta đã và đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu. Bộ mặt đời sống kinh tế-xã hội nông thôn có nhiều thay đổi, các khu công nghiệp liên tiếp hình thành vừa giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại các khu vực nông thôn theo hướng công nghiệp, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nhưng quá trình này cũng đã tạo ra những mặt trái, nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng nhanh chóng, cần có những giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động này đến người dân sinh sống tại khu vực nông thôn hiện nay.
Rác thải được đổ rồi đốt trong cánh đồng làng Trát Cầu, xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, Hà Nội – một làng nghề làm chăn, gối bông. Ảnh: Trần Việt - TTXVN

Bởi vậy Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2017(từ ngày 23-30/9), với chủ đề “Quản lý rác thải vì môi trường nông thôn bền vững” do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát động, một lần nữa đặt ra yêu cầu cần phải cónhững giải pháp khả thi khắc phục ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn và hướngđến mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên. 

* Nguyên nhân gây ô nhiễm 

Theo phân tích của Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Công Nhất, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên nhân chính yếu gây ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn là do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa quá nhanh, kèm theo sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước.

Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có  và thiết bị xử lý chất thải. 

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khỏe nhân dân.Nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản, khiến các thức ăn thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc. Thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam. 

Mặt khác, nhận thứccủa công dân và cộng đồng đang sống và làm việc tại các khu vực nông thôn về vấn đề môi trường còn chưa cao. Phần lớn người dân nông thôn chưa có ý thức bảo vệ môi trường. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất; xả nước, rác thải; sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh, việc đầu tư các công trình phục vụ đời sống và  sức khỏe (bể nước, cống rãnh thoát nước, nhà vệ sinh...), việc thamgia công tác vệ sinh môi trường cộng đồng còn hạn chế. 

Đặc biệt, trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn còn nhiều bất cập. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, chưa thấy rõ được nguy cơ ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn sẽ có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế-xãhội, sức khỏe người dân. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn ít về số lượng,bất cập về chất lượng. Hiện Việt Nam mới chỉ có gần 30 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân so với một số nước trong khối ASEAN là 70 người/1 triệu dân.
 
Cơ sở pháp lý, ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn quá ít. Vấn đề đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu, còn dàn trải và thiếu hiệu quả. Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng… 

Theo kết quả “Nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm asen trong nguồn nước ăn uống, sinh hoạt tới sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng dân cư vùng đồng bằng sông Hồng và biện pháp khắc phục”, do Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hải, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường cho thấy, trong số 4.700 đối tượng (nam và nữ) đã sử dụng nước giếng khoan trên 3 năm (có nhiễm chất asen) để ăn, uống và tắm giặt đã phát hiện được 60 trường hợp nhiễm độc asen mãn tính, chiếm tỷ lệ 1,62% trong tổng số người sử dụng nước ô nhiễm asen, phân bố nhiều nhất ở Hà Nội (7,25%), Vĩnh Phúc (4,98%),Nam Định (4,57%) . 

Bên cạnh một số bệnh tật có tính chất di truyền, tại các khu vực nông thôn hiện đang xuất hiện ngày càng nhiều các loại bệnh tật mới có tính chất lây lan nguy hiểm ra cộng đồng như dịch tả, bệnh ngoài da, hô hấp, uốn ván và đặc biệt là các căn bệnh có tínhchất hiểm nghèo tiêu chảy cấp, ung thư…có nguyên nhân do sử dụng các sản phẩm độc hại hoặc môi trường bị ô nhiễm... 

* Một số giải pháp khắc phục

Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Công Nhất cho rằng, để giảm thiểu những tác động xấu của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe của người dân nông thôn cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ từ cơ chế, chính sách, nguồn tài chính hỗ trợ đến công tác tuyên truyền chongười dân về ý thức bảo vệ chính môi trường mình đang sinh sống. Về lâu dài, phải có các giải pháp về kiểm tra, kiểm soát môi trường chặt chẽ, trong đó quan tâm hơn đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý môi trường tại các khu vực nông thôn. 
 
Theo đó, phải có các kế hoạch và biện pháp đánh giá toàn diện về thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn nước ta hiện nay. Do đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương khác nhau nên mức độ ô nhiễm môi trường khác nhau, việc cần thiết là phải lập được bản đồ về ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn, qua đó xác định cácvùng ô nhiễm trọng tâm, trọng điểm để từng bước đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp. 
  
Đồng thời chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề tại các khu vực nông thôn, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo. Đối với các khu công nghiệp đang đóng trên các địa bànnông thôn, nên có quy định bắt buộc đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thugom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, thường xuyêncó báo cáo định kỳ về hoạt động xử lý nước thải, rác thải tại đó. 

Nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lý hình sự) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Về lâu dài, cần ban hành và thể chế hóa các luật lệ có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường tại các khu vực nông thôn, tiến tới xây dựng bộ luật riêng về lĩnh vực này. 

Các cấp, các ngành đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội, tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường. Xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mậtthiết giữa tự nhiên - con người - xã hội. Đi đôi với công tác tuyên truyền, giáo dục cần tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề này trên các địa bàn nông thôn, như các cấp chính quyền địa ph ương, các cơquan quản lý và bảo vệ môi trường, các cơ sở y tế, các tổ chức đoàn thể có liên quan để đảm bảo cho công tác tuyên truyền, giáo dục và thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn có hiệu quả hơn nữa./. 
Văn Hào 
 
Ý kiến bạn đọc
Bình luận: