Thứ 2, 20/11/2017, 7:4 GMT+7
Múa Sư tử của người Tày, Nùng
16:51, 08/11/2017
Có quan điểm cho rằng múa sư tử được du nhập, tồn tại và phát triển ở Lạng Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung trong quá trình di cư hoặc giao lưu văn hóa các tộc người khu vực biên giới. Sau khi du nhập, múa sư tử tiếp biến, giao thoa, dung hợp với các yếu tố văn hóa bản địa, kết hợp nghệ thuật võ cổ truyền, múa dân gian, múa dân tộc… dần biến đổi và từng bước cấu thành, định hình phương thức, cách thức biểu diễn phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng tại địa phương. Trải qua thăng trầm lịch sử, múa sư tử vẫn tồn tại, bảo tồn và phát triển trong đời sống tinh thần của người dân từ thế hệ này sang thế hệ khác và thường được trình diễn trong các ngày: Tết cổ truyền.

Người múa sư tử cần có sự đam mê, nhiệt tình và có sức khỏe. Một đội (đoàn) múa sư tử có khoảng 12 đến 14 người, trong đó gồm: thầy dạy võ (lạo slay) hoặc người chỉ huy (tàu phụ) - là người có uy tín, giỏi võ công và tháo vát, giỏi quản lý, có nhiệm vụ hướng dẫn việc múa sư tử, dạy võ cho các thành viên; một ngoại giao viên (tong cha) chịu trách nhiệm trong công tác ngoại giao và quản lý chi tiêu; người cầm đầu sư tử (căm bẩu); người đánh trống (căm choong); người đánh chiêng hoặc thanh la (căm là); người cầm chũm chọe (căm xả); người diễn mặt báo đông (loòng nả báo đông); người diễn mặt khỉ (loòng nả lình) và người diễn đầu sư tử bé, dành cho trẻ em (ky lằn ỉ) cùng các thành viên phụ trách múa võ và các trò diễn như: múa tay không, múa gậy, múa dao, múa đao, kiếm, đinh ba, nhảy bàn (dết xoòng); nhảy qua ống cót (bua tẹm, vòng tẹm), nhảy qua cửa dao (quá tu pjạ), nhảy qua vòng lửa (tu phầy)… Hầu hết các thành viên của đội múa sư tử đều là những người múa võ, múa sư tử, gõ chiêng trống, chũm choẹ, múa báo đông và trò khỉ để có thể thay thế, đảm nhiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong lúc biểu diễn.

Múa sư tử của đồng bào Tày tại lễ hội Lồng Tồng xã Hải Yến, huyện Cao Lộc (Lạng Sơn). Ảnh: nhandan.com.vn

Đạo cụ thực hành múa sư tử gồm: sư tử, mặt nạ báo đông, mặt nạ khỉ (nà lình); bộ gõ có trống (choong), chiêng hoặc thanh la (là), chũm chọe (xụp xè, xấp xóa, nghé xả); bộ võ có đinh ba chạc (Sam xa), gậy, đoản đao (pàn tao), kiếm, dao nhọn… và các vật dụng liên quan khác.

Sư tử gồm 3 bộ phận: đầu, cổ và thân. Đầu sư tử được làm bằng keo và giấy bản bồi nhiều lớp trên khuôn đất sét, sau đó dùng sơn màu xanh, đỏ, đen, vàng, trắng, hồng, tím… trang trí cho đầu và mặt với nhiều sắc thái, biểu cảm khác nhau: hiền lành, hung dữ, uy nghi… Cổ và thân sư tử được làm bằng vải. Ngoài ra, một số nơi còn có sư tử con cho người nhỏ tuổi múa, có nơi thay bằng hình con cáo (tua hân).

Mặt báo đông được làm bằng giấy hoặc nhựa và sơn thành hình quái dị, chỉ có đầu và cổ kéo dài, chụp vào đầu người để trình diễn.

Mặt khỉ (nả lình) làm bằng giấy hoặc nhựa và tô sơn giống mặt khỉ, được đeo vào mặt khi trình diễn.

Múa sư tử ở các không gian, với yêu cầu, mục đích khác nhau sẽ có nghi thức, điệu múa và các trò diễn phù hợp như: múa chào thần thánh; múa chúc mừng năm mới các nhà trong làng (pai hờn, pái lờn); múa đi đường, múa tại hội lồng tồng… và các trò diễn như: báo đông, trò vui của khỉ, múa võ (oóc quyền)… Tương  ứng  với  các điệu múa, trò diễn là các kiểu gõ tương ứng như: Mở màn (tấn choong), đánh đi đường (pây lò), bái lạy thần thánh (giọng pái), bái lạy xong (gắp nào), đánh lên nhà (khửn lườn), đánh tại chỗ (cọn tại chỗ), sư tử ra (óoc tải sam), óoc lòong (sư tử múa ), con báo đông ra (cọn báo đông), con khỉ ra (cọn óoc nả lình)… Động tác của các điệu múa, trò diễn nhanh hay chậm là do sự điều khiển và sáng tạo của dàn nhạc đệm với nhạc cụ giữ nhịp là trống hay chũm chọe, làm tăng sự hấp dẫn và thu hút người xem.

Nghi thức mở mắt (đón) sư tử (khai quang, khay choong nào, khay kỳ lằn)

Nghi thức mở mắt (đón) sư tử thường diễn ra khoảng cuối tháng Chạp, đầu tháng Giêng Âm lịch. Thường trước khi múa sư tử các đội đến trình diện, xin phép các vị Thần, Thổ công, Thổ Địa tại những bãi đất gần bờ sông, bờ suối, nơi có nguồn nước hoặc đình, miếu (thỏ ty) bởi người Tày, Nùng quan niệm nếu không trình diện và xin phép thì Thổ Công, Thổ Địa sẽ phạt vạ, đồng thời, thể hiện sự biết ơn đối với những người khai lập làng, bản đó. Sau khi nhờ thầy xem, lựa chọn được ngày tốt, các thành viên đội múa sư tử và nhân dân trong thôn, bản tập trung chuẩn bị lễ vật. Hiện nay có 2 hình thức mở mắt (đón) sư tử như sau:

Đại lễ được tiến hành khi đội sư tử trong thôn, bản đi múa, hoạt động ra khỏi phạm vi làng, xã. Khi làm đại lễ các thành viên trong đội sư tử phải kiêng không được quan hệ vợ chồng, trêu đùa phụ nữ, không để gia súc, gia cầm, người ngoại đạo, đặc biệt là phụ nữ cầm, chạm vào trống, chiêng, chũm chọe… Lễ vật cho nghi thức này gồm: 03 con gà, 01 bát gạo, 01 chai rượu, 2 bát cơm, 3 gói muối, hoa quả, bánh kẹo, hương… Chuẩn bị đồ lễ xong, thầy cúng và các thành viên đội sư tử mang lễ vật cùng đạo cụ ra nơi có nguồn nước làm lễ. Thầy cúng tiến hành các nghi lễ, báo cáo mục đích, thỉnh mời các vị Thần, Thổ Công, Thổ Địa, “phi hà bả”…về dự, cầu mong thần phù trợ, bảo hộ, che chở cho đội sư tử tiến hành công việc được hanh thông, suôn sẻ, dân làng gặp nhiều may mắn, sang một năm mới mưa thuận gió hòa, an khang, vật thịnh, mùa màng bội thu. Trong khi thầy cúng đang làm lễ, một thành viên trong đội cầm đầu sư tử chầu ở bên cạnh ở tư thế đinh mã (nửa quỳ nửa ngồi, 01 chân trên bờ, 01 chân dưới nước hoặc chạm nước), khi thầy xin được 3 lần tén (xin quẻ âm dương) xong và hóa sớ, tiền vàng, trống chiêng nổi lên, người cầm đầu sư tử múa các điệu múa bái trống, bái lạy Thần Thánh theo điều khiển của dàn nhạc đệm. Sau đó thầy cúng và các thành viên trong đội sư tử tiếp tục mang lễ vật và các đạo cụ sang lễ tại miếu Thổ Công. Khi đến trước miếu sư tử làm các động tác múa cầu mong thần sẽ che chở, bảo vệ cho công việc được hanh thông, suôn sẻ. Khi vào trong miếu phải múa thấp, đi khom, quỳ đầu gối, đầu sư tử múa sát đất, chân lết đất, dùng khuỷu tay tỳ đi từng nấc, với các động tác múa thấp, tiến vào vái lạy 03 lần trong ban thờ, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, rồi múa giật lùi trở ra. Khi ra khỏi cửa con sư tử ngẩng cao đầu và hạ xuống ba lần báo hiệu lễ trình diện thần Thành Hoàng đã kết thúc cho những người gõ chiêng, trống.

Tiểu lễ tiến hành khi đội sư tử múa trong phạm vi làng, xã. Thầy cúng và các thành viên đội sư tử mang lễ vật cùng đạo cụ ra miếu Thổ Công làm lễ báo cáo, trình diện như nghi thức làm tại miếu Thổ Công phần đại lễ.

Tuy nhiên ở một số vùng hiện nay dù hoạt động trong phạm vi rộng, hay hẹp cũng chỉ làm tiểu lễ, một số nơi chỉ cần thầy cúng mang lễ vật ra miếu cúng, xin phép Thổ Công là có thể đi múa được.

Múa chúc mừng năm mới các nhà trong làng (pai hờn, pái lờn)

Ngày mùng 1 hay mùng 2 Tết Âm lịch, tùy từng địa phương, đồng bào Tày, Nùng Lạng Sơn thường mời các đội múa sư tử vào nhà mình múa mong gặp nhiều may mắn và xua đuổi tà ma, diệt mọi ôn dịch, biểu hiện sự thái bình và niềm tin vào một năm mới sung túc.

Sư tử múa từ ngoài sân, qua cửa vào trong nhà chúc Tết, trước hết con sư tử phải “liếm” (lì) hai cái cột cổng hoặc hai bên cửa để xua tà ma bằng động tác dùng tay múa, đưa đi đưa lại. Sư tử múa cúi lạy bàn thờ tổ tiên, “liếm” các góc bàn thờ, cúi rạp xuống đất và từ từ lùi ra, tránh quay lưng vào bàn thờ tổ tiên để không bị tổ tiên chủ nhà phạt vạ. Mỗi hoạt động trên phải làm ít nhất 3 lần theo hướng từ trái sang phải. Sư tử sẽ được chủ nhà lì xì, rượu và “ka hoòng” (buộc mảnh vải đỏ vào miệng sư tử). Cũng có nhà chỉ cho sư tử múa đến sân vì trong nhà đang có chuyện buồn hoặc tổ tiên họ kỵ sư tử.

Một số nơi còn thử thách sư tử, chủ nhà trải chiếu, đặt 3 chén rượu hoặc chén nước, 3 nén hương trên đĩa. Khi gặp tình huống này sư tử phải múa các bài cuốn chiếu, trải chiếu, tong cha hoặc người chỉ huy phải phải lấy 3 chén nước (rượu), 3 nén hương dâng lên mời tổ tiên chủ nhà.

 Múa tại hội lồng tồng

Múa Sư tử được chia thành hai phần chủ yếu: múa sư tử và múa võ (oóc quyền). Múa sư tử thường có: múa sư tử đón (chào) bạn (kỳ lằn tò chiếp); múa lễ Thành hoàng làng, thổ địa; múa biểu diễn: múa chào Thần Nông, múa vui hội, trò múa của báo đông, trò vui của khỉ, trò sư tử đẻ con, trò sư tử bị giết hoặc múa săn sư tử, trò tẳng giảo (chồng người). Múa sư tử xong, các đội chuyển sang múa võ với các bài tay không, gậy, dao, đoản đao, đinh ba…

Ngoài các bài võ trên ở một số nơi còn múa “mạy xiến phung” hoặc “chất liền” (một cây gậy dài bằng gỗ hoặc tre) để xua đi những điều không may mắn, tai họa, dịch bệnh.

Một số địa phương có tục làm lễ trả sư tử khi kết thúc múa sư tử. Sau khi đã chuẩn bị đồ lễ, thầy cúng và các thành viên đội sư tử mang lễ vật cùng đầu sư tử, nả lình, báo đông, bộ gõ (trống, chiêng, chũm chọe), bộ võ (gậy, kiếm, đao, đinh ba…) ra bờ sông, bờ suối hoặc nơi có nguồn nước để làm lễ trả sư tử. Thầy cúng làm lễ, báo cáo kết quả công việc, thỉnh mời các vị Thần, Thổ Công, Thổ Địa, “phi hà bả”… về nhận linh hồn sư tử và xin phép cất trống, chiêng, chũm chọe và các đạo cụ liên quan đến múa sư tử. Sau đó xin 3 lần tén (xin quẻ âm dương), hóa sớ, tiền vàng và mang cất các đạo cụ liên quan đến múa sư tử chờ sang năm mới hoặc sự kiện liên quan khác đến múa sư tử lại tiến hành nghi lễ khai quang (đón sư tử) phục vụ nhân dân.

Múa sư tử của người Tày, Nùng (tỉnh Lạng Sơn) là khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp, đồng thời, thể hiện tinh thần đấu tranh của họ chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, xua đuổi tà ma và ác quỷ, cầu mong sự ấm no, hạnh phúc. Các nghi lễ, trò diễn trong múa sư tử thể hiện sự giao hòa giữa trời, đất, nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn, cầu mong cuộc sống tốt đẹp, cách ứng xử giữa người với người, người với thiên nhiên và con người với xã hội… Các đạo cụ dùng múa sư tử thể hiện thị hiếu thẩm mỹ, tài năng lao động sáng tạo, của các nghệ nhân, chủ thể văn hóa, phản ánh sinh động nhân sinh quan, thế giới quan, tư tưởng, tình cảm và khát vọng của đồng bào Tày, Nùng đối với thiên nhiên, xã hội và cuộc sống, góp phần gắn kết cộng đồng làng bản hoặc liên làng bản, đặc biệt ở tục kết “lạo tồng” (kết bạn thân).

Với giá trị tiêu biểu, Múa sư tử của người Tày, Nùng được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1852/QĐ-BVHTTDL ngày 08/5/2017.
Theo dch.gov.vn
 
Ý kiến bạn đọc
Bình luận: