![]() |
Bà Bạc Thị Thim đong lúa nếp chuẩn bị cho bữa ăn. |
Gia đình ông Lò Văn Chờ và bà Bạc Thị Thim đã hơn 30 năm xa quê nhưng quê hương vẫn gần lại trong gia đình ấy qua bữa cơm. Trong nhà ông bà luôn có đủ ba bữa cơm nếp với đầy đủ các thành viên trong gia đình. Các cháu nhỏ trong nhà cũng như được tiếp nối khẩu vị, chỉ thích ăn cơm nếp do bà nấu. Bà kể rằng ông bà khi vào quê mới đã đem theo nếp giống, thử gieo trồng trên ruộng và lúa nảy mầm cho từng vụ mùa thu hoạch. Gia đình giờ có 2 sào trồng lúa nếp, sản xuất một vụ và để dành ăn cả năm. Tuổi già của ông bà vui vẻ khi cùng xay lúa, sàng cho thật sạch để nồi cơm nếp được thơm ngon. Ăn cơm nếp như lưu giữ cội nguồn, là truyền thống tiếp nối từ đời này sang đời khác. Khi không có nếp, ai cũng thấy khẩu vị nhàn nhạt, cơm nếp làm các món ăn trong bữa ăn thêm đậm đà chất quê.
Ông Lương Văn Phước có nhiều năm làm Trưởng thôn Thái Sơn. Ông hào hứng khi nói về tục ăn cơm nếp của đồng bào. Từ xưa, tổ tiên người Thái thường định cư ở những thung lũng lớn, phì nhiêu, điều kiện tự nhiên ấy tạo nên đời sống chủ đạo của đồng bào là chuyên canh trồng lúa và đánh bắt. Kỹ thuật trồng lúa nếp lâu đời khiến nếp người Thái sản xuất ra thường dẻo và thơm, cơm nếp trở thành là món ăn thường nhật trong mỗi bếp lửa gia đình. Đi xa, dân thôn Thái Sơn sống quần cư, nhà kề nhà, bếp lửa này thơm hương nếp khiến bếp lửa nhà bên cạnh cũng như được nhắc nhớ. Hơn nữa, cơm nếp đã là nhu cầu không thể thiếu được của bà con.
Đến ngày lễ lớn, những hạt nếp ngon nhất được để dành cho dịp trọng đại. Lúc đó, bản sắc Thái lan tỏa. Nắm cơm nếp thường dằn chặt bụng và rất nặng nghĩa tình.