Có thể điều chỉnh tỷ lệ hưởng lương hưu của lao động nữ

Có thể điều chỉnh tỷ lệ hưởng lương hưu của lao động nữ
* Xin ông cho biết Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu đối với người lao động từ ngày 01/01/2018 như thế nào?

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, từ ngày 01/01/2018, sẽ bắt đầu thay đổi cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu. Theo đó, lao động nam được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội khi có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 16 năm và nghỉ hưu năm 2018; đủ 17 năm và nghỉ hưu năm 2019; đủ 18 năm và nghỉ hưu năm 2020; đủ 19 năm và nghỉ hưu năm 2021; đủ 20 năm và nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi. Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi thì 15 năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội, người lao động gồm cả nam và nữ được cộng 2%. Tối đa không quá 75%.

Như vậy, để đạt tỷ lệ hưởng tối đa là 75% thì lao động nữ đủ 55 tuổi, nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018 trở đi phải đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội mới được hưởng tối đa 75% (hiện nay chỉ cần đủ 25 năm). Đối với lao động nam, nghỉ hưu năm 2018 phải đủ 31 năm đóng bảo hiểm xã hội, nghỉ năm 2019 phải đủ 32 năm, nghỉ năm 2020 phải đủ 33 năm, nghỉ năm 2021 phải đủ 34 năm và nghỉ từ năm 2022 trở đi phải đủ 35 năm đóng bảo hiểm xã hội mới được hưởng tỷ lệ tối đa là 75% (hiện nay chỉ cần đủ 30 năm). Việc điều chỉnh tỷ lệ hưởng lương hưu đối với lao động nam có lộ trình trong 5 năm, còn lao động nữ thì không có lộ trình.

Ngành Bảo hiểm Xã hội cải cách thủ tục hành chính, phát triển đối tượng tham gia. Ảnh: Dương Ngọc - TTXVN
Ngành Bảo hiểm Xã hội cải cách thủ tục hành chính, phát triển đối tượng tham gia.  Ảnh: Dương Ngọc - TTXVN

* Dư luận xã hội và nhiều lao động nữ cho rằng, cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2018 là bất bình đẳng giới, gây sốc cho lao động nữ và đề nghị dừng thực hiện khoản 2 Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hoặc phải có lộ trình như lao động nam. Bảo hiểm xã hội Việt Nam và cơ quan chức năng liên quan sẽ xử lý điều này theo hướng nào, thưa ông?

- Quy định cách tính lương hưu đối với lao động nữ từ ngày 01/01/2018 trở đi không phải là quy định mới. Chúng ta đã áp dụng quy định này từ năm 1995 đến hết năm 2002 theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP của Chính phủ. Từ năm 2003, khi Chính phủ sửa đổi Điều lệ Bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 01/2003/NĐ-CP thì cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu đối với lao động nữ mới thay đổi theo công thức: 15 năm đầu đóng bảo hiểm xã hội tính bằng 45%; mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội tiếp theo được tính thêm 3%; tối đa là 75%.

Việc điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là đưa công thức tính mức lương hưu đối với lao động nữ quay trở lại trước đây, chứ không phải là chính sách mới. Còn đối với lao động nam, từ năm 1995 đến nay, để được hưởng lương hưu ở mức tối đa 75% thì đều phải có 30 năm đóng bảo hiểm xã hội (từ năm 2003 đến nay số năm lao động nam đóng bảo hiểm xã hội luôn cao hơn lao động nữ 5 năm).

Theo tôi, quan điểm cho rằng cách tính lương hưu từ năm 2018 trở đi đối với lao động nữ là bất bình đẳng giới là chưa thấu đáo. Bởi lẽ, khi kết thúc lộ trình thay đổi cách tính lương hưu, để đạt được tỷ lệ hưởng lương hưu ở mức tối đa thì số năm đóng bảo hiểm xã hội của lao động nam vẫn luôn cao hơn lao động nữ là 5 năm. Vấn đề là đối với lao động nữ thì áp dụng ngay nên tâm lý hụt hẫng, tác động mạnh hơn.

Còn về việc xử lý sự chênh lệch về cách tính lương hưu giữa lao động nam và lao động nữ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Bảo hiểm xã hội nên Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội sẽ tham mưu cho Chính phủ tính toán, cân nhắc các giải pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc: Không để lao động nữ thiệt thòi; thực hiện có lộ trình; đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng; tạo điều kiện cho quỹ bảo hiểm xã hội ổn định, phát triển bền vững và không gây bức xúc trong xã hội.

Trong tháng 10 vừa qua, tại cuộc họp với Vụ Bảo hiểm xã hội (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) bàn các phương án xử lý chênh lệch về cách tính lương hưu giữa lao động nam và lao động nữ, đại diện Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã đề xuất phương án áp dụng lộ trình điều chỉnh cách tính lương hưu đối với lao động nữ trong 5 năm như sau: 15 năm đầu đóng bảo hiểm xã hội tính bằng 45%, sau đó:

Nghỉ hưu năm 2018: 8 năm tiếp theo, mỗi năm tính thêm 3%; sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa 75%;

Nghỉ hưu năm 2019: 6 năm tiếp theo, mỗi năm tính thêm 3%; sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa 75%;

Nghỉ hưu năm 2020: 4 năm tiếp theo, mỗi năm cộng 3%; sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa 75%;

Nghỉ hưu năm 2021: 2 năm tiếp theo, mỗi năm cộng 3%; sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa 75%;

Nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi: Các năm tiếp theo mỗi năm tính thêm 2%, tối đa 75%.

Theo phương án này, để đạt được tỷ lệ hưởng lương hưu ở mức tối đa là 75% thì lao động nữ nghỉ hưu trong năm 2018 phải có 26 năm đóng bảo hiểm xã hội; nghỉ hưu trong năm 2019 phải có 27 năm; trong năm 2020 là 28 năm; năm 2021 là 29 năm; từ năm 2022 trở đi là 30 năm.

Như vậy, phương án này hoàn toàn tương đồng với lộ trình thay đổi cách tính lương hưu như đối với lao động nam; nghĩa là khi kết thúc lộ trình vào năm 2022, để đạt được tỷ lệ hưởng 75% thì cả lao động nam và nữ đều phải có số năm đóng bảo hiểm xã hội tăng thêm 5 năm (mỗi năm tăng thêm một năm đóng); đồng thời đảm bảo tính hài hòa trong quá trình cải cách chính sách.

* Một số ý kiến cho rằng, cách tính tỷ lệ % hưởng lương hưu theo khoản 2, Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 từ ngày 1/1/2018 sẽ khiến hàng triệu lao động nữ bị giảm lương hưu. Con số này có đúng không? Và khi nào cơ quan chức năng sẽ có quyết định cuối cùng về việc dừng hay thực hiện theo lộ trình khoản 2, Điều 56 này, thưa ông?

- Trước hết, phải khẳng định rằng, việc thay đổi cách tính lương hưu từ năm 2018 trở đi không chỉ tác động đến lao động nữ mà có tác động chung đến tất cả người lao động. Tuy nhiên, tác động đến lao động nam là từng bước theo lộ trình, còn với lao động nữ thì không có lộ trình.

Theo dự báo của chúng tôi, năm 2017 cả nước có khoảng 57.500 lao động nữ nghỉ hưu; năm 2018 sẽ có khoảng 49.700 lao động nữ nghỉ hưu đúng tuổi 55 (chưa tính số lao động nghỉ hưu trước tuổi) và cách tính lương hưu mới sẽ tác động đến khoảng 21.000 lao động nữ trong số đó. Như vậy, thông tin hàng triệu lao động nữ bị giảm lương hưu là không đúng.

Ngày 3/11/2017, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đề nghị xem xét, sửa đổi cách tính lương hưu đối với lao động nữ quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 theo hướng dẫn thực hiện như quy định cũ của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Trước đó, ngày 2/11/2017, Văn phòng Chính phủ cũng đã có công văn gửi Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ giao Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cân nhắc thêm phương án cho phép thay đổi dần trong 5 năm, bắt đầu từ ngày 1/1/2018 như công thức tính lương hưu đối với lao động nam để vừa đảm bảo thực thi pháp luật, vừa đáp ứng các ưu điểm của Luật Bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội Việt Nam ủng hộ quan điểm của Chính phủ trong vấn đề này.

Tuy nhiên, để đưa ra được quyết định dừng hay thực hiện theo lộ trình khoản 2, Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội, thì theo quy trình chung, sau khi Chính phủ thống nhất phương án sẽ báo cáo Quốc hội và Quốc hội sẽ quyết định.    

*Trân trọng cảm ơn ông !
Vân – Phương (thực hiện) 

Có thể bạn quan tâm

Phân bổ hơn 4.557 tỷ đồng để xoá nhà tạm, nhà dột nát

Phân bổ hơn 4.557 tỷ đồng để xoá nhà tạm, nhà dột nát

Thông tin ngày 30/3 từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho hay, căn cứ Nghị quyết của Quốc hội về việc cho phép sử dụng từ nguồn tiết kiệm 5% kinh phí chi thường xuyên năm 2024 để hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phân bổ 4.557,773 tỷ đồng để các địa phương triển khai chương trình này trên địa bàn. Đến nay, các địa phương đã nhận được 2.836,8 tỷ đồng từ các bộ, ngành, địa phương, ngân hàng, tập đoàn, đạt gần 82% theo phương án phân công của Ban Chỉ đạo trung ương.

Bộ Y tế yêu cầu siết chặt kiểm soát lây nhiễm sởi trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Bộ Y tế yêu cầu siết chặt kiểm soát lây nhiễm sởi trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Ngày 29/3, Bộ Y tế có văn bản hỏa tốc gửi Giám đốc các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Thủ trưởng Y tế các Bộ về việc tăng cường công tác phân luồng, thu dung, điều trị và kiểm soát lây nhiễm sởi trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ủng hộ Chương trình “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” tỉnh Ninh Thuận. Ảnh: Công Thử - TTXVN

Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng: Ninh Thuận phải quyết tâm hoàn thành sớm mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát

Ninh Thuận phải cố gắng nỗ lực để là 1 trong 5 tỉnh, thành phố hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người dân khó khăn về nhà ở trong năm 2025. Đó là mong muốn, ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng trong chuyến công tác tại Ninh Thuận, Lễ phát động chiến dịch 90 ngày đêm “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” do tỉnh tổ chức sáng 29/3.

Đoàn đại biểu Quốc thảo luận ở tổ về cải cách tiền lương. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Những chính sách mới nổi bật có hiệu lực trong tháng 4/2025: Quy định mới về tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước

Trong tháng 4/2025, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật là các chính sách liên quan đến quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng trong doanh nghiệp nhà nước; sửa đổi, bổ sung quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm.

Đóng góp đề xuất dự thảo Luật về lĩnh vực dân tộc

Đóng góp đề xuất dự thảo Luật về lĩnh vực dân tộc

Ngày 27/3, Thường trực Hội đồng Dân tộc Quốc hội phối hợp với Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố Huế tổ chức khai mạc Hội thảo "Chính sách phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi; thực trạng và những đề xuất cho dự thảo Luật về lĩnh vực dân tộc".

Khuyến khích đặt tên xã, phường theo số thứ tự để thuận lợi cho việc số hóa

Khuyến khích đặt tên xã, phường theo số thứ tự để thuận lợi cho việc số hóa

Để thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và tạo cơ sở pháp lý thực hiện việc sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp; trên cơ sở kết quả thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thời gian qua, Bộ Nội vụ đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức xây dựng dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính.

Các đối tượng được hưởng ưu tiên khu vực, ưu tiên đối tượng trong tuyển sinh đại học, cao đẳng

Các đối tượng được hưởng ưu tiên khu vực, ưu tiên đối tượng trong tuyển sinh đại học, cao đẳng

Theo hướng dẫn một số nội dung tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm 2025 vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, trong thời hạn đăng ký dự thi tốt nghiệp (từ 21/4 đến 17 giờ ngày 28/4), thí sinh có nguyện vọng đăng ký xét tuyển sinh đại học, cao đẳng phải khai báo trên phần mềm đầy đủ, đúng các thông tin kèm minh chứng để hưởng ưu tiên trong xét tuyển.

Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Kế hoạch về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Kế hoạch về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Ngày 20/3/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã ban hành Công văn số 43-CV/BCĐ (Công văn số 43-CV/BCĐ) về Kế hoạch tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 51/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hội nhập quốc tế" (Chương trình).

Triển khai hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững ở vùng miền núi khó khăn tỉnh Cao Bằng

Triển khai hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững ở vùng miền núi khó khăn tỉnh Cao Bằng

Giảm nghèo bền vững được coi là một trong những nhiệm vụ chính trị của cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Cao Bằng. Các địa phương đang tích cực triển khai nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ người dân sản xuất, tạo sinh kế để tăng thu nhập, góp phần thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững.