Thứ 4, 19/09/2018, 22:43 GMT+7
Sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường qua Nhãn xanh sinh thái
14:51, 19/07/2017
Chương trình Nhãn xanh Việt Nam đã được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt theo Quyết định số 253 ngày 5/3/2009, với mục tiêu tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, thông qua khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường được Nhà nước đánh giá, chứng nhận. Nhưng trên thực tế cộng đồng xã hội và nhất là doanh nghiệp vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc sử dụng các sản phẩm có dán Nhãn xanh sinh thái.
Văn phòng Nhãn xanh Việt Nam thuộc Tổng cục Môi trường cho biết, khó khăn trước hết là chưa có một nguồn kinh phí ổn định để duy trì, phát triển chương trình Nhãn xanh, bởi Tổng cục Môi trường chưa thu bất cứ kinh phí gì nhằm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng. Trong khi ở các nước thực hiện Nhãn xanh, hầu hết khi dãn nhãn sinh thái đều thu phí gọi là phí hồ sơ. Sau khi nhận được chứng nhận sản phẩm dán nhãn sinh thái bảo vệ môi trường thì còn phải nộp thêm phí sử dụng nhãn.

Chương trình Nhãn xanh Việt Nam ban hành với mục đích khuyến khích các sáng kiến về môi trường, cũng như nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề môi trường. Đây cũng là phương pháp giúp người tiêu dùng đưa ra các quyết định mua sắm, từ đó so sánh lợi ích của sản phảm được gắn nhãn sinh thái với sản phẩm cạnh tranh cùng loại, góp phần tăng cường sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Với những mục tiêu đó nên từ khi triển khai đến nay, chương trình Nhãn xanh Việt Nam cũng đã xây dựng được 14 tiêu chí cho 14 nhóm sản phẩm, đánh giá và chứng nhận cho hơn 50 sản phẩm của 4 công ty. Việc thúc đẩy Nhãn xanh Việt Nam còn góp phần phát triển chính sách về mua sắm công xanh. Đây là một quy định mới trong Luật Bảo vệ môi trường 2014. Theo đó, Nghị định 19 được ban hành 2015 hướng dẫn chi tiết mua sắm công xanh như thế nào đối với những sản phẩm được dán nhãn sinh thái, Bộ Tài chính đang trong quá trình dự thảo các văn bản hướng dẫn.

Tuy vậy, Việt Nam vẫn chưa huy động được nhiều doanh nghiệp tham gia vào chương trình chứng nhận dán nhãn sinh thái, vì nhận thức và sự quan tâm của người tiêu dùng chưa cao vào sản phẩm có chứng nhận thân thiện với môi trường, do đó chưa tạo ra được thị trường cho doanh nghiệp. Hiện chương trình cũng chưa có quy định cụ thể để có thực hiện các quy định về ưu đãi. Ngoài ra, trình độ kỹ thuật, nhân lực của doanh nghiệp trong nước chưa cao, làm cho nhiều sản phẩm chưa đáp ứng được các tiêu chí khi xét duyệt.

So với các nước trong khu vực, yêu cầu về sản phẩm xanh (sản phẩm thân thiện với môi trường) trên thị trường Việt Nam cũng như nhận thức của người tiêu dùng còn hạn chế. Các sản phẩm dán nhãn môi trường cũng như cách nhận biết còn chưa rõ và phổ biến đối với người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa chú trọng đầu tư, sử dụng công nghệ, phương thức quản lý và áp dụng các hệ thống quản lý phù hợp, để sản xuất các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về dán nhãn. Mặt khác, hiện nay các tiêu chí về sản phẩm xanh còn rất hạn chế về mặt số lượng, mới chỉ có đối với một số chủng loại mặt hàng nhất định. Nên khi cơ quan quản lý tiến hành dán nhãn sinh thái, cần cung cấp cho người dân hiểu rõ nếu mua sản phẩm dán Nhãn xanh Việt Nam thì họ được lợi ích gì. Ngoài việc khi mua những sản phẩm có dãn nhãn sẽ tốt hơn cho môi trường, đồng thời có thể bảo vệ người tiêu dùng trong quá trình sử dụng. Chẳng hạn, Tổng cục Môi trường đang dự thảo tiêu chí nhãn xanh Việt Nam cho máy photocopy và bóng đèn led chiếu sáng thông dụng. Cả 2 sản phẩm đèn led và máy photocopy đều không sử dụng các chất chì (Pb), cadmium (Cd), thuỷ ngân (Hg) và các hợp chất của chúng, cũng như các hợp chất có crôm giá trị 6 (Cr6+) trong sản phẩm. Không sử dụng các loại nhựa có chứa halogen (như PVC) làm vật liệu đóng gói sản phẩm.

Các doanh nghiệp phải biết rằng khi tham dự chương trình Nhãn xanh Việt Nam, ngoài việc họ sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, ưu tiên về mua sắm công xanh, trong Nghị định 19/2015/NĐ-CP cũng đã nêu rõ doanh nghiệp sẽ được trợ giá. Mặt khác trong xu hướng toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh và mất thị phần không chỉ trên thị trường quốc tế, mà sẽ phải cạnh tranh trên chính thị trường trong nước nếu không bắt kịp sự thay đổi để đáp ứng các yêu cầu về luật định và yêu cầu của thị trường về sản phẩm xanh. Do đó, Việt Nam cần có các hoạt động thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp nhanh chóng hội nhập và nâng cao ý thức của người tiêu dùng khi lựa chọn mua sản phẩm. Đồng thời các chính sách và quy định của nhà nước rõ ràng và cụ thể hơn, nhằm tạo điều kiện để các sản phẩm xanh có chỗ đứng và phát triển.

Để chương trình Nhãn xanh Việt Nam phát triển, phải xây dựng tiêu chí cho các sản phẩm ưu tiên trên thị trường cũng như nâng cao nhận thức của người dân; thúc đẩy việc gia nhập Hệ thống hợp tác quốc tế về nhãn sinh thái GENICES của Mạng lưới Nhãn sinh thái toàn cầu, để việc công nhận lẫn nhau giữa Nhãn xanh Việt Nam và chương trình nhãn sinh thái của các nước khác. Ngoài ra cũng cần phải phát triển chính sách về mua sắm công xanh cũng như lồng ghép quy định về nhãn sinh thái trong mua sắm công.
Văn Hào
Ý kiến bạn đọc
Bình luận: