Tết sớm trên non cao

Với tôi, lần thứ 9 lên Tà Xùa, một xã vùng cao thuộc huyện Bắc Yên (Sơn La) không chỉ là để “săn” những búp chè shan “lấp lánh” tuyết cuối vụ mà còn là dịp rảo bước ở các bản Chung Chinh, Mống Vàng, Bẹ,… chung vui, đón Tết truyền thống của đồng bào dân tộc Mông.

TRONGCHINHTETMONG cp01.jpg

Từ cuối tháng 11 sang tháng 12 (âm lịch), đó là thời điểm đẹp nhất tôi thường chọn lên Tà Xùa để trải nghiệm đất trời và con người nơi đây, nhất là khi người Mông bắt đầu chuẩn bị đón Tết cổ truyền của dân tộc mình. Tết của người Mông diễn ra trong 3 ngày đầu tiên của tháng 12, sớm hơn Tết Nguyên đán 1 tháng. Trước Tết, phụ nữ Mông nghỉ lên nương, ở nhà chuẩn bị những bộ quần áo đẹp nhất để mặc chơi ngày Tết. Vài năm gần đây, Tết của người Mông có một vài đổi mới nhưng không vì thế mà làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng, nét đẹp văn hóa truyền thống.

TRONGCHINHTETMONG 05.jpg
Gạo nếp nương sau khi đồ chín được mang ra máng gỗ và dùng chày gỗ giã. Từ 4 đến 6 chàng trai khỏe mạnh thay nhau giã. Bánh giầy giã xong được chuyển ra mẹt đã tráng lòng trắng trứng gà cho khỏi dính... Ảnh: Trọng Chính
TRONGCHINHTETMONG cp 06.jpg
… và được gói vào lá chuối theo hình tròn với quan niệm, bánh dày tròn tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời

Tại nhà của gia đình anh Mùa A Tánh ở bản Bẹ, các thành viên tất bật sửa soạn và làm những thủ tục đón Tết cổ truyền như xua đuổi điều không tốt của năm cũ, dán giấy niêm phong công cụ lao động. Việc dán giấy lên công cụ lao động được chủ nhà thực hiện rồi xếp vào cạnh góc bàn thờ. Người Mông xem đây như sự tri ân chiếc cày, chiếc bừa, cây dao, cây búa... bởi trong năm những đồ vật này đã giúp họ làm nương, làm vườn, sản xuất lương thực, thực phẩm cho gia đình.

TRONGCHINHTETMONG 07.jpg
Mâm cơm ngày Tết dâng cúng tổ tiên và sau đó là cả gia đình sum vầy bên mâm cỗ. Ảnh: Trọng Chính

Trong mâm cỗ Tết của người Mông, bánh giầy là món ăn không thể thiếu. Theo bà Thào Thị Dê, mẹ của anh Mùa A Tánh thì người Mông quan niệm, bánh giầy tròn tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời, nguồn gốc sinh ra con người và vạn vật. Bà Dê thường chọn gạo nếp nương để ngâm và đồ thành xôi, rồi đổ vào một máng gỗ. Anh Mùa A Tánh cùng những người đàn ông trong gia đình dùng chày thay nhau giã gạo đến khi thật nhuyễn, mịn, rồi gói lại bằng lá chuối. 6 cặp bánh đầu tiên gồm 12 chiếc tượng trưng cho 12 tháng trong năm được dâng lên trời đất và vị thần mùa màng.

TRONGCHINHTETMONG 04.jpg
Hong phơi những bộ váy áo mới nhất, đẹp nhất để đi chơi Tết làm bức tranh Tà Xùa thêm nhiều màu sắc.... Ảnh: Trọng Chính
TRONGCHINHTETMONG cp 02.jpg
… bởi dịp Tết là những ngày vui sướng nhất, khi được xúng xính quần áo đẹp đi chơi
TRONGCHINHTETMONG 09.jpg
… và cùng chiêm ngưỡng những bộ trang phục với sắc màu rực sỡ của các thiếu nữ Mông Ảnh: Trọng Chính
TRONGCHINHTETMONG 08.jpg
Ngày Tết của người Mông không thể thiếu trò ném pao, một nét văn hóa đặc sắc được lưu giữ qua nhiều thế hệ. Ảnh: Trọng Chính

Ở khu đất trống ngay đầu bản Bẹ là nơi được chọn làm sân chơi ném pao. Quy định về cách chơi pao, từ truyền thống đến hiện đại vẫn giữ được bản sắc vốn có đến nay. Thường mỗi bản sẽ có một sân riêng, tụ họp chơi pao và thường được chia làm hai bên, mỗi đội cách nhau khoảng 5 - 7 m.

Những quả pao được khâu nối các miếng vải lanh đủ màu sắc thành trái tròn, to bằng quả cam từ đôi tay khéo léo của các bà các mẹ dân tộc Mông. Pao của các thiếu nữ thường to, màu sắc bắt mắt và sặc sỡ hơn, còn pao của các cô bé mới lớn đơn giản hơn, bé hơn và có màu đen.

Không để cho pao rơi xuống đất và trò chơi được giao ước với nhau bằng về số lần ném, số lần bắt được pao, nếu bên nào thua thì phải làm một điều gì đó do đôi thắng quy định. Không chỉ có các nam thanh nữ tú mà ném pao còn được các em nhỏ dân tộc Mông yêu thích. Cái trò chơi “tung hứng” tưởng chừng đơn giản ấy hòa cùng những bộ quần áo sặc sỡ của những cô gái Mông tạo thành bức tranh Tết Tà Xùa, đẹp tới nao lòng.

Trọng Chính

(Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)
Dân tộc Mông Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn