Then Kin Pang, Lễ hội mang đậm bản sắc của dân tộc Thái ở Phong Thổ

Năm nay, đông đảo người dân và du khách có mặt tại xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu trong hai ngày 17 và 18/4 để hòa mình vào Lễ hội Then Kin Pang năm 2024 với nhiều hoạt động hấp dẫn đặc trưng của đồng bào Thái trắng tại đây.

vna_potal_le_hoi_then_kin_pang_ngay_cang_lan_toa_7329232.jpg
Thực hành nghi thức cúng Then tại Nhà Then. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN

Huyện Phong Thổ có 9 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái có tỷ lệ dân số đứng thứ 3 của huyện với hơn 17%. Người Thái có kho tàng văn hóa, văn nghệ vô cùng phong phú, đa dạng, giàu bản sắc. Lễ hội “Then Kin Pang” là nét văn hóa đặc sắc, hình thức diễn xướng dân gian độc đáo của dân tộc Thái khu vực Mường So, Khổng Lào ở huyện Phong Thổ.

vna_potal_le_hoi_then_kin_pang_ngay_cang_lan_toa_7329252.jpg
Diễn xướng điệu múa Then trong lễ hội Then Kin Pang. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN

Lễ hội được tổ chức gồm 2 phần: Phần lễ với các nghi thức cúng, dâng hương, thể hiện lòng biết ơn đối với trời đất, các vị thần linh. Từ đó bày tỏ ước vọng về chỗ dựa tinh thần, tạo dựng niềm tin để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, mong muốn bản làng no ấm, khỏe mạnh, mùa màng bội thu, thóc lúa đầy bồ.

Phần hội diễn ra với các hoạt động phong phú, đa dạng, tái hiện lại những nét sinh hoạt văn hóa thường ngày của người Thái như: Đơm cúc áo cóm, đan chài bắt cá, chế tác đàn tính trong phần thi khéo tay hay nghề; múa trống chiêng truyền thống và các trò chơi dân gian. Lễ hội cũng tái hiện nghi thức gội đầu “Áp hô Pang”; tái hiện các hoạt động sông nước; thi không gian văn hóa dân tộc Thái; thi ẩm thực….

vna_potal_le_hoi_then_kin_pang_ngay_cang_lan_toa_7329248.jpg
Thi chế tác đàn Tính. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN.
vna_potal_le_hoi_then_kin_pang_ngay_cang_lan_toa_7329250.jpg
Thi đan chài bắt cá. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN.
vna_potal_le_hoi_then_kin_pang_ngay_cang_lan_toa_7329235.jpg
Thi bắn nỏ. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN.
vna_potal_van_hoa_soi_duong_le_hoi_then_kin_pang_lai_chau_thu_hut_nguoi_dan_va_du_khach_7329236.jpg
Du khách hòa mình vào các trò chơi dân gian tại Lễ hội Then Kin Pang. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN.
vna_potal_van_hoa_soi_duong_le_hoi_then_kin_pang_lai_chau_thu_hut_nguoi_dan_va_du_khach__7329244.jpg
Thi ẩm thực dân gian của dân tộc Thái. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN

Đặc biệt, 2 nội dung của lễ hội luôn được người dân và du khách đón chờ, phấn khích tham gia là tái hiện “Tục gội đầu của người Thái” và “Té nước cầu may” của các chàng trai, cô gái Thái bên dòng suối Nậm Lụm.

Du khách Nguyễn Uyên Hương đến từ Hà Nội chia sẻ: Đây là lần đầu đến với Phong Thổ. Thấy các bạn nữ dân tộc Thái rất xinh đẹp trong trang phục truyền thống tắm suối rất độc đáo và thú vị. Nhiều nét văn hóa cổ của họ vẫn được lưu giữ. Mình mở mang thêm kiến thức và trải nghiệm.

vna_potal_ngam_tuc_goi_dau_cua_nguoi_thai_trang_o_phong_tho_7329037.jpg
Các cô gái Thái trắng té nước ở suối Nậm Lụm. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN.
vna_potal_van_hoa_soi_duong_le_hoi_then_kin_pang_o_lai_chau_thu_hut_dong_dao_du_khach_7329308.jpg
Màn gội đầu đặc sắc của thiếu nữ Thái trắng thu hút đông đảo du khách đến với Lễ hội. Ảnh: Quý Trung – TTXVN

Phát biểu tại lễ hội, Phó Chủ tịch UBND huyện Phong Thổ, Trưởng Ban tổ chức lễ hội Mai Thị Hồng Sim nhấn mạnh: Đến với lễ hội du khách sẽ được hòa mình vào không gian đậm chất văn hóa miền Tây Bắc, nơi có nghệ thuật Xòe Thái, nghệ thuật hát Then được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Qua các hoạt động của lễ hội nhằm tôn vinh truyền thống văn hóa, thành tựu, đóng góp của cộng đồng dân tộc Thái trong công cuộc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng. Đồng thời, khẳng định vị thế, công lao của những con người đang bám trụ, sống kiên cường ở miền biên giới Tây Bắc.

vna_potal_ngam_tuc_goi_dau_cua_nguoi_thai_trang_o_phong_tho_7329039.jpg
Vẻ đẹp của các cô gái Thái tại Lễ hội gội đầu. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN
vna_potal_ngam_tuc_goi_dau_cua_nguoi_thai_trang_o_phong_tho_7329044.jpg
Màn hất tóc ra phía sau mãn nhãn người xem. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN.
vna_potal_ngam_tuc_goi_dau_cua_nguoi_thai_trang_o_phong_tho_7329035 (1).jpg
Các cô gái Thái trắng té nước ở suối Nậm Lụm. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN

Bên cạnh đó, lễ hội còn góp phần tuyên truyền và phát huy, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo tồn các bản sắc văn hóa truyền thống, củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Đây cũng là dịp để nhân dân các dân tộc cùng hội tụ giao lưu văn hóa, tình cảm, tăng thêm sự hiểu biết, tạo điều kiện để các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian, phát triển, kết hợp giữa văn hóa truyền thống với văn hóa đương đại, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần vui tươi, lành mạnh, từ đó xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

vna_potal_van_hoa_soi_duong_le_hoi_then_kin_pang_lai_chau_ngay_cang_lan_toa_7329229.jpg
Du khách và người dân đổ ra suối Nậm Lụm thi bắt cá. Ảnh: Nguyễn Oanh-TTXVN
vna_potal_van_hoa_soi_duong_dac_sac_man_te_nuoc_tren_dong_suoi_nam_lum_trong_le_hoi_then_kin_pang_o_lai_chau_7329293.jpg
Trong không khí vui nhộn, đồng bào các dân tộc trên địa bàn cùng té nước vào nhau với mong muốn mọi điều may mắn. Ảnh: Quý Trung – TTXVN

Lễ hội cũng là dịp để huyện Phong Thổ giới thiệu và quảng bá các giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc của dân tộc Thái đến với bạn bè trong nước và quốc tế, góp phần phát huy tiềm năng du lịch, thu hút du khách thập phương và các nhà đầu tư đến với quê hương Phong Thổ. Qua đó, đẩy mạnh phát triển du lịch huyện giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

Nguyễn Oanh

(TTXVN)
Dân tộc Thái Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Có thể bạn quan tâm