Yên Bái: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tạo nguồn sinh kế ổn định, lâu dài

Tại tỉnh Yên Bái, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã thực sự mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội và môi trường; thay đổi nhận thức và cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.

Tạo nguồn sinh kế ổn định, lâu dài

Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Yên Bái, đến tháng 6/2021, toàn tỉnh có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp cung ứng dịch vụ môi trường rừng là 325.977,4 ha, chia theo 4 lưu vực sông, suối chính của địa bàn 8 huyện, thị trải rộng trên 104 xã, phường, thị trấn. Hiện có trên 53.000 hộ gia đình được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng thông qua việc tham gia bảo vệ và phát triển rừng.

Yen Bai: Chinh sach chi tra dich vu moi truong rung tao nguon sinh ke on dinh, lau dai hinh anh 1 Trồng rừng tạo nguồn sinh thủy phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch thiên nhiên. Ảnh: Tiến Khánh - TTXVN

Tùy theo vị trí và tính chất của từng khu rừng mà đơn giá dịch vụ môi trường rừng khác nhau, dao động từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng/ha/năm. Đây là nguồn thu nhập đáng kể, ổn định lâu dài đã giúp các hộ trồng rừng cải thiện cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Ông Bàn Tiến Lâm, Trưởng thôn Giàng Cài, xã Nậm Lành, huyện Văn Chấn cho biết, năm 2020, toàn thôn có 3 nhóm cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng được nhận hơn 1,2 tỷ đồng từ dịch vụ môi trường rừng. Số tiền này đã giúp một số hộ nghèo tăng thu nhập ổn định để thoát nghèo, ngoài ra có nguồn vốn phát triển thêm diện tích trồng rừng mới. Do đó, số hộ nghèo năm 2020 chỉ còn 30 hộ, giảm 19 hộ so với năm 2019.

Hiện tại, tỉnh Yên Bái đang có 4 đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng và có 3 đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng, với tổng số 47 đơn vị là các nhà máy thủy điện, các cơ sở sản xuất công nghiệp và kinh doanh nước sạch. Ngoài ra, tỉnh Yên Bái còn có 10 đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng lưu vực liên tỉnh. Tổng số tiền thu được từ các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên toàn tỉnh đạt trên 120 tỷ đồng/năm.

Yen Bai: Chinh sach chi tra dich vu moi truong rung tao nguon sinh ke on dinh, lau dai hinh anh 2 Chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng đã thực sự trở thành nghề của người dân xung quanh khu vực lòng hồ Thủy điện Thác Bà. Ảnh: Tiến Khánh - TTXVN

Được hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ môi trường rừng, ông Giàng A Chua, thôn Khấu Ly, xã Bản Mù, huyện Mù Căng Chải chia sẻ, gia đình tôi được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng từ hơn 20 ha rừng tự nhiên và 7,5 ha rừng cây gỗ lớn. Thu nhập ổn định hàng chục triệu đồng/năm,giúp gia đình có thêm nguồn vốn cho chăn nuôi, trồng trọt, mua sắm nhiều vật dụng trong nhà, nuôi con cái ăn học. Giờ đây chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng là nghề của cả gia đình, cuộc sống ổn định nhờ rừng, chúng tôi yên tâm gắn bó với rừng.

Có thu nhập từ dịch vụ môi trường rừng, người dân sẵn sàng đóng góp nguồn lực cho việc xây dựng nông thôn mới tại vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh. Theo ông Nông Mạnh Tường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Lâm Thượng, huyện Lục Yên, từ ngày có tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân vui vẻ, đồng thuận cùng nhau đóng góp làm đường, làm nhà văn hóa thôn, sân chơi thể thao thôn, xây bể chứa rác thải công cộng…đồng thời cùng nhau đóng góp để duy tu, bảo vệ, sử dụng công trình đó. Nhờ vậy, việc huy động nguồn lực từ người dân xây dựng các thiết chế nông thôn mới dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Nâng cao trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng

Hằng năm, công tác xác định diện tích rừng, chất lượng rừng đủ tiêu chuẩn có cung ứng dịch vụ môi trường rừng được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái phối hợp chặt chẽ với các chủ rừng, các cơ quan chuyên môn tỉnh tiến hành đánh giá công khai, minh bạch. Có thể thấy, việc giao khoán bảo vệ rừng để được hưởng lợi dịch vụ môi trường rừng đã gắn quyền lợi, trách nhiệm và nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng của người dân.

Yen Bai: Chinh sach chi tra dich vu moi truong rung tao nguon sinh ke on dinh, lau dai hinh anh 3 Nuôi trồng thủy sản là một trong hai đối tượng tiềm năng của tỉnh Yên Bái chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trong thời gian tới. Ảnh: Tiến Khánh - TTXVN

Ông Giàng A Phong, xã Dế Xu Phình, huyện Mù Cang Chải chia sẻ, trước đây cuộc sống còn khó khăn, tôi cũng như nhiều người khác tự ý vào rừng chặt cây lấy gỗ, củi về đun, phá rừng làm nương. Bây giờ khác rồi, rừng được coi như tài sản của gia đình, không có rừng hoặc rừng nghèo là không được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Mỗi người trong bản đều phải có trách nhiệm giữ rừng, khi phát hiện khu vực nào có hiện tượng xâm hại, lấn chiếm rừng thì thông báo kịp thời với cán bộ kiểm lâm xử lý và ngăn chặn kịp thời.

Cùng với chủ trương đóng cửa rừng, hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích đất rừng, chính sách dịch vụ môi trường rừng đã tác động không nhỏ, làm tăng nhanh diện tích rừng và độ che phủ trên toàn tỉnh Yên Bái. Diện tích đất có rừng toàn tỉnh đến hết 31/12/2020 là 463.342 ha, trong đó rừng tự nhiên 245.616 ha, rừng trồng 217.726 ha, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 63%.

Đánh giá về hiệu quả của chính sách dịch vụ môi trường rừng, ông Nguyễn Tiến Thành, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái khẳng định, điều quan trọng nhất là chính sách dịch vụ môi trường rừng đã mang lại quyền lợi cho người dân, từ đó làm thay đổi ý thức người dân từ chặt phá, khai thác rừng sang trồng và tu bổ rừng, người dân có trách nhiệm phát triển rừng bền vững gắn với đa dạng sinh học.

Hơn nữa, nhận thức và trách nhiệm trong công tác bảo vệ, phát triển rừng của cấp ủy, chính quyền cơ sở các xã vùng cao được nâng lên đáng kể, nạn phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng, khai thác lâm sản quá mức được ngăn chặn, góp phần làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng được hiệu quả, bền vững.

Yen Bai: Chinh sach chi tra dich vu moi truong rung tao nguon sinh ke on dinh, lau dai hinh anh 4 Chính sách dịch vụ môi trường rừng góp phần tạo ra “lợi ích kép”, vừa giữ được rừng vừa giữ được nước phục vụ cho sản xuất điện. Ảnh: Tiến Khánh - TTXVN

Dịch vụ môi trường rừng đã mang lại nhiều đổi thay cho cuộc sống của người dân, giúp người dân gắn bó hơn với nghề rừng. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trong thời gian tới, theo ông Đinh Đăng Luận, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Bái, tỉnh đang tập trung lập hồ sơ quản lý rừng, giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng theo quy định của Luật Lâm nghiệp. Đồng thời, tỉnh phát triển rừng đi đôi với bảo vệ các hệ sinh thái, môi trường và đa dạng sinh học để nhằm khai thác hiệu quả, hưởng lợi nhiều hơn tiềm năng của rừng.

Bên cạnh đó, tỉnh Yên Bái tiếp tục bổ sung, mở rộng nguồn thu từ các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn; đổi mới công tác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng qua tài khoản ngân hàng, kho bạc, bưu điện đảm bảo công khai, minh bạch và đúng đối tượng.

Tiến Khánh

Tin liên quan

Hiệu quả từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nơi vùng cao Lai Châu

Sau gần 9 năm triển khai, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lai Châu đã giúp người dân, đặc biệt đồng bào dân tộc thiểu số có thêm thu nhập cải thiện cuộc sống. Mặt khác, chính sách đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân về nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng, nhất là phòng cháy, chữa cháy rừng vào mùa khô.


Hiệu quả từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (Bài cuối)

Sau 10 năm được triển khai thực hiện, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành nguồn tài chính ổn định, bền vững, góp phần quan trọng nâng cao giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia.


Hiệu quả từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (Bài 1)

Sau gần 10 năm thực hiện, hoạt động cung ứng và chi trả dịch vụ môi trường rừng (Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011) đã chứng minh được sự phù hợp với xu thế mới ở Việt Nam và xu thế chung của thế giới trong việc bảo vệ môi trường, góp phần quan trọng vào việc quản lý, khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên đất đai trong lâm nghiệp, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.



Đề xuất