Đại hội XIII của Đảng: Xây dựng chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực

Nông dân Bến Tre chọn nuôi dê là mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Công Trí-TTXVN
Nông dân Bến Tre chọn nuôi dê là mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Công Trí-TTXVN

Để nâng cao hiệu quả sản xuất cho người dân, tỉnh triển khai xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo Nghị Quyết số 03-NQ/TU ngày 5/8/2016 của Tỉnh ủy về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025. Đây là một trong những nghị quyết quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.

Đại hội XIII của Đảng: Xây dựng chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ảnh 1Nông dân Bến Tre chọn nuôi dê là mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Công Trí-TTXVN

Hình thành các chuỗi giá trị

Ông Đoàn Văn Đảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre cho biết, sau gần 4 năm xây dựng chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo tinh thần Nghị quyết 03-NQ/TU, Bến Tre đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, từng bước góp phần chuyển dần từ tư duy sản xuất nông nghiệp thành tư duy kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Đến nay, tỉnh đã xây dựng được 5 chuỗi giá trị trong 8 sản phẩm chủ lực của tỉnh như: Chuỗi cây dừa, chuỗi cây bưởi da xanh, chuỗi con lợn, chuỗi con bò, chuỗi con tôm biển. Toàn tỉnh có 109 tổ hợp tác, 26/55 hợp tác xã tham gia vào chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Các chuỗi cây chôm chôm, nhãn và hoa kiểng đã hình thành được các liên kết ngang (tổ hợp tác, hợp tác xã) và bắt đầu thực hiện liên kết dọc với nhiều công ty, doanh nghiệp.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre cho hay, hoạt động sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún sang chủ động hơn trong việc tham gia các liên kết ngang - dọc theo đúng định hướng "mảnh vườn nhỏ nhưng sản xuất lớn”. Xuất hiện và ngày càng hoàn thiện các hợp đồng dịch vụ đầu vào và bao tiêu sản phẩm nông nghiệp cho người dân. Nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao được xây dựng, nhân rộng và phát huy hiệu quả tích cực. Mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm dừa bước đầu được hình thành, phát triển, đặc biệt là sản xuất dừa hữu cơ... góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, tỉnh đang tập trung triển khai các chương trình, dự án về ứng dụng khoa học và công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Nông dân đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp khoa học công nghệ, sản xuất sạch theo tiêu chuẩn hữu cơ, GAP, xây dựng vùng nguyên liệu. Đến nay, Bến Tre đã có khoảng 9.869 ha cây ăn trái, dừa và tôm biển được công nhận GAP và hữu cơ. 2/8 sản phẩm chủ lực được xây dựng chỉ dẫn địa lý, triển khai xây dựng 10 nhãn hiệu tập thể, 3 nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm chủ lực của địa phương, 22 cơ sở vùng trồng đã được cấp mã châu Âu (3 vùng trồng bưởi da xanh, 13 vùng trồng chôm chôm, 2 vùng trồng nhãn, 4 vùng trồng xoài).

Cùng với đó, chất lượng sản phẩm nông nghiệp của tỉnh được nâng cao thông qua chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu sản phẩm, truy xuất nguồn gốc... tạo thương hiệu đặc trưng cho sản phẩm nông nghiệp của tỉnh. Cơ chế hỗ trợ liên kết sản xuất - tiêu thụ đã bắt đầu có hướng phát triển, sự xuất hiện của các hợp đồng mang tính ràng buộc kinh tế giữa tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp thúc đẩy sự liên kết ngang, liên kết dọc trong cùng một chuỗi giá trị. Đó là yếu tố nền tảng và quyết định cho sự phát triển bền vững của cả chuỗi giá trị.

Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, để phát triển chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bền vững cần có những chính sách, giải pháp căn cơ phù hợp với từng địa phương và cho cả khu vực.

Về những định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân, đặc biệt là việc xây dựng chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp trong nhiệm kỳ tới, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre có cho rằng, Đại hội XIII của Đảng tập trung thẻo luận, xây dựng cơ chế, chính sách bố trí dân cư tập trung; thực hiện quy định về đất đai, quyền sử dụng đất trong nông nghiệp thuận lợi để các thành phần tham gia vào chuỗi tiếp cận đất đai, hình thành vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, chế biến tập trung, thuận lợi đầu tư phát triển kinh doanh. Chính sách đất đai cần nghiên cứu sửa đổi trong thời gian tới theo hướng, khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để tập trung phát triển đất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn; tạo điều kiện về thể chế, chính sách, thúc đẩy quá trình liên kết, hợp tác, tổ chức lại sản xuất theo yêu cầu phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ và bền vững, tạo lập vùng sản xuất tập trung hóa, chuyên môn hóa, cơ giới hóa, tự động hóa, quản trị tiên tiến.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, các vùng nguyên liệu xây dựng thí điểm cần gắn với ứng dụng công nghệ cao và chế biến sâu; nghiên cứu, xây dựng thí điểm mô hình tổ chức lại sản xuất nông nghiệp gắn với quy hoạch đất đai và tổ chức bố trí, sắp xếp lại dân cư ở nông thôn để phát triển nền nông nghiệp, thích ứng biến đổi khí hậu. Diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần đẩy mạnh phát triển, hình thành các mô hình nông nghiệp thông minh tập trung xây dựng, công nhận các doanh nghiệp và vùng sản xuất công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.

Doanh nghiệp liên kết vào chuỗi bằng cách tham gia sản xuất với nông dân cần được hỗ trợ. Mã số vùng trồng và cấp mã cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc cần quan tâm cấp mới, quản lý, theo dõi, kiểm tra, giám sát, giải quyết khó khăn trong quá trình thực hiện bảo đảm tính bền vững của việc cấp mã số, truy xuất nguồn gốc.

Bên cạnh đó, chính sách để xây dựng hoàn chỉnh chuỗi giá trị nông sản chủ lực cần được xây dựng, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về giá trị và lợi ích chuỗi giá trị, tạo động lực giúp người dân thực hiện theo định hướng chung của tỉnh và quy hoạch vùng, khu vực. Mô hình có hiệu quả cần tập trung, rà soát, để làm mô hình điểm, dẫn đầu chuỗi đảm bảo việc tổ chức lại sản xuất xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với phát triển chuỗi giá trị.

Đặc biệt, việc quy hoạch vùng sản xuất và thực hiện tốt liên kết vùng duyên hải phía Đông và Đồng bằng sông Cửu Long cần quan tâm. Từ đó tạo vùng nguyên liệu, thu hút nhà đầu tư, thực hiện các dự án quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại, số hóa... tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu, dự báo xu thế, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, tiêu thụ sản phẩm, ổn định đầu ra.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre nhấn mạnh, các hợp tác xã kiểu mới tham gia vào chuỗi giá trị cần đẩy mạnh phát triển; tiếp tục phát huy mạnh mẽ công tác tuyên truyền; huy động sự tham gia đồng bộ, quyết liệt của tổ chức đoàn thể, chính trị, đảng viên, công chức.

Song song đó, các hợp tác xã kiểu mẫu cần tập trung đẩy mạnh đầu tư, phát triển; tăng cường quản lý Nhà nước về hợp tác xã, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các sở, ngành, phát huy tính chủ động, tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp của các cấp quản lý về phát triển hợp tác xã. Chính sách hỗ trợ, ưu đãi phát triển hợp tác xã cần triển khai đồng bộ, tạo điều kiện, hỗ trợ hợp tác xã tham gia vào chuỗi giá trị và liên kết với các tác nhân trong chuỗi.

Các chương trình, dự án thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới cần lồng ghép và khai thác hiệu quả nguồn vốn; tăng cường huy động mọi nguồn vốn và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đang hoạt động cũng như các nhà đầu tư mới đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, môi trường đầu tư cần duy trì ổn định, đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, trong đó chú trọng khuyến khích các dự án ứng dụng công nghệ cao và đầu tư vốn lớn vào nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ để phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp.

Huỳnh Phúc Hậu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm