Cây nêu, cột lễ của người Cơ-tu

Cây nêu là một thành tố có quan hệ mật thiết với cây cột lễ nhưng lại hoàn toàn tách rời với cây cột lễ. Trong khi cây cột lễ được chôn chính giữa sân nhà Gươl thì cây nêu (thường là 2 cây tre) được chôn ở vòng ngoài, câu ngọn vào phía trong tạo thành hình cung gãy ngay trên đỉnh của cột lễ. Trên ngọn cây này thường được trang trí hình chim-đại diện cho linh vật tầng trên. Cột lễ là cột “thiêng” vì đây là nơi thần linh hội tụ về dự lễ; bàn thờ cúng dâng lễ vật hiến sinh cho thần linh; nơi trình diễn điệu múa “Tân tung dá dá”; không gian thiêng kết nối, thông quan giữa thần linh với con người. Với ý nghĩa như vậy, cột tế thường được làm cao hơn, trang trí cầu kỳ hơn những vật trang trí khác. Sẽ không quá lời khi nói cây cột tế là vật trang trí đẹp nhất của người Cơ-tu cũng như nhiều tộc người khác trong các lễ hội. Đây là công trình sáng tạo mỹ thuật của tập thể nghệ nhân khéo tay nhất trong làng.

Dựng cột lễ trước sân nhà Gươl.

Theo một số nhà nghiên cứu, cột lễ thuộc “biểu tượng cây”, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan tộc người qua các hệ thống mô típ hoa văn, màu sắc, hình tượng, đồ vật trang trí trên cột.

Cột lễ dành riêng cho việc hiến tế có nghi thức đâm trâu thì tập trung nhiều chủ đề, hình thức, ý nghĩa trong trang trí. Một cây cột lễ được chia làm 3 phần, gồm gốc, thân và đỉnh cột. Theo quan niệm của người Cơ-tu, các phần đó thể hiện sự phân tầng thành 3 không gian tương ứng với 3 thế giới của thần linh, người và ma quỷ. Giương là bộ phận quan trọng nhất, là hai tấm gỗ dẹt, được gắn đối xứng qua phần giữa thân cột lễ, trên đó tập trung nhiều hoa văn, tô màu sặc sỡ và nổi bật là hình vẽ chim tring, gà trống hoặc một số con vật khác, như trâu, heo, ếch, rồng... Giương là bộ phận quan trọng vừa tạo nên yếu tố thẩm mỹ vừa làm cho cột tế có sự cân đối. Một số nơi, đồng bào tạc tượng 2 chim tring rồi gắn lên cột. Trong ý tưởng tạo hình, cột lễ là cách tái hiện dáng hình của Thần Lúa (Yang Haro) hay hình ảnh của người phụ nữ Cơ-tu trong điệu múa dá dá và giương chính là đôi tay của họ đưa lên trời, cầu xin hạt lúa của thần linh. Cũng ngay giữa thân cột, đồng bào thường khắc chạm hình cái cối nằm đối xứng trên dưới. Đây là hình ảnh vừa mang biểu tượng của no ấm vừa mang ý nghĩa phồn thực. Trên đỉnh cột lễ là một đoạn tre được chẻ nhỏ tạo thành cái phễu ngửa lên trời, nơi chứa cái đuôi trâu hay con gà sống mà già làng ném lên trên sau khi kết thúc nghi thức hiến sinh (đâm trâu). Đồng bào xem đây như là một cái bàn thờ, nơi đón nhận sinh khí của đất trời, nơi thần linh tụ về hưởng thụ lễ vật và chứng giám các nghi lễ hiến sinh.
 
Cây nêu, cột lễ là một biểu tượng trung tâm của các hoạt động văn hóa cộng đồng của người Cơ-tu. Xét về phương diện tinh thần, đây là chiếc cầu nối giữa thế giới con người và thế giới thần linh thông qua các nghi lễ cầu cúng-hiến tế. Xét về phương diện nghệ thuật, đây là một sản phẩm điêu khắc dân gian đã đạt đến đỉnh cao cả về nội dung cũng như hình thức.
Ở một số dân tộc vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, người Giẻ Triêng, Cor, Sê Đăng, Chăm-Hroi thì cây nêu và cột lễ gần như là một. Phần phía dưới là cây cột to, có khi được gia cố những cây cột phụ làm cho toàn bộ thân cột thêm chắc chắn, để buộc trâu cho lễ hiến sinh, phía trên là phần dành cho cây nêu, nơi tập trung nhiều chi tiết trang trí. Cây nêu thường bố trí ở sân nhà rông, cao vút lên trời xanh, trông thật uy nghi. Đây là công trình sáng tạo tập thể nghệ nhân, rất kỳ công, mang vẻ đẹp hoàn hảo, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa điêu khắc và trang trí hoa văn. Người Mnông đã sáng tạo nên một sử thi rất giàu chất thơ, đầy chất lãng mạn để ca ngợi vẻ đẹp của cây nêu dành cho mùa ăn trâu của mình, đó là sử thi “Cây nêu thần”, đã được sưu tầm và xuất bản từ lâu. Dân tộc Sê Đăng ở vùng Bắc Tây Nguyên, trong lễ “ăn trâu huê”, thường trang trí trên cây nêu rất cầu kỳ với gần 15 chi tiết khác nhau từ gỗ lên đến ngọn.
Cây nêu và cột lễ của dân tộc Cơ-tu và một số dân tộc trong vùng thật sự là công trình có giá trị mỹ thuật, cần sưu tầm để trưng bày ở các bảo tàng.
 
 

Đề xuất