Cầu nối phát huy giá trị di sản (Bài 2)

Cầu nối phát huy giá trị di sản (Bài 2)

Chuyển đổi số đang là yêu cầu cấp thiết, xu hướng tất yếu với tất cả các lĩnh vực trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã ảnh hưởng sâu sắc trên toàn cầu, trong đó có văn hóa, di sản.

Có thể nói rằng, số hóa di sản đã không còn xa lạ trên thế giới, Việt Nam đã tiếp cận xu hướng này từ lâu và chuyển đổi số chính là cầu nối hữu hiệu đưa các di sản đến gần hơn với cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Nhân Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11), phóng viên TTXVN thực hiện chùm bài viết “Cầu nối phát huy giá trị di sản” nhằm khẳng định những lợi ích thiết thực trong khi thực hiện chuyển đổi số trong ngành văn hóa. Đồng thời phản ánh những khó khăn, giải pháp phải thực hiện để khai thác, quảng bá và quản lý di sản văn hóa hiệu quả trên môi trường số.

Bài 2-Nâng tầm giá trị di sản, văn hóa truyền thống

Việt Nam đang triển khai thực hiện chương trình “Số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030”. Đây là việc làm cần thiết, đóng góp tích cực vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản, văn hóa truyền thống. Tuy vậy, các cơ quan chức năng, địa phương sẽ phải nỗ lực rất lớn để phát huy hết lợi ích của môi trường số trong việc duy trì, gìn giữ, phát huy và nâng tầm các giá trị di sản, văn hóa truyền thống.

Nâng tầm giá trị, quảng bá di sản

Đầu tháng 12/2021, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã ký Quyết định phê duyệt chương trình “Số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030” nhằm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa trên nền tảng công nghệ số thống nhất, phục vụ công tác lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác, quảng bá di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Chương trình đặt mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2021-2030: 100% các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản tư liệu được UNESCO ghi danh; 100% các di tích quốc gia đặc biệt, 100% bảo vật quốc gia, di sản trong Danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia được số hóa và ứng dụng trên các nền tảng số (ưu tiên số hóa theo nhu cầu sử dụng của xã hội các di tích quốc gia và các hiện vật, nhóm hiện vật tại các bảo tàng, Ban Quản lý di tích). Cùng với đó, 100% người làm công tác chuyên môn trong ngành Di sản Văn hóa được đào tạo, đào tạo lại, cập nhật các kiến thức, kỹ năng chuyển đổi số.

Cầu nối phát huy giá trị di sản (Bài 2) ảnh 1Cán bộ Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn chụp ảnh hiện vật để làm công tác số hóa. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, bảo tàng và di sản tư liệu của các dân tộc Việt Nam được số hóa bao gồm: Hồ sơ, tư liệu, bảo vật quốc gia, hiện vật quý của các bảo tàng và di tích, di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia có giá trị tiêu biểu, di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục kiểm kê di sản. Cùng với đó là các Di sản Văn hóa và thiên nhiên thế giới, thực hành Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia; Di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh và di sản tư liệu được UNESCO ghi danh đang được bảo quản, lưu giữ tại trung tâm ngân hàng dữ liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, của bộ, ngành, tổ chức chính trị trên toàn quốc.

Bà Huỳnh Phương Loan, Phòng Tư liệu, thông tin và đào tạo, Viện Bảo tồn di tích chia sẻ: Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là công cụ hữu hiệu nhất để duy trì, gìn giữ, phát huy và nâng tầm các giá trị di sản, văn hóa truyền thống. Trên thế giới, công nghệ thực tế ảo đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực bảo tồn di tích, đặc biệt trong việc tái hiện, phục dựng các di tích, thắng cảnh đến nay không còn quá mới mẻ.

Hầu hết các di tích lớn như đấu trường La Mã, lăng tẩm Ai Cập cổ đại, cố đô Nara (Nhật Bản), Đại Minh cung (Trung Quốc), đền Ananda Ok Kyaung (Bagan, Myanmar), cung điện Al Azem Palace (Damascus, Syria), thành phố cổ Chichen Itza (Mexico)... đều đã ứng dụng công nghệ này. Gần đây, việc nghiên cứu xây dựng mô hình phục dựng điện Kính Thiên (Hoàng thành Thăng Long) phục vụ công tác phục dựng đã thu hút đông đảo công chúng quan tâm.

Cầu nối phát huy giá trị di sản (Bài 2) ảnh 2Đông đảo du khách đến tham quan Lăng Tự Đức. Ảnh: Tường Vi - TTXVN

Viện Bảo tồn di tích đã thực hiện số hóa di tích, trong đó tập trung vào việc số hóa các dữ liệu liên quan tới di tích, công tác bảo tồn di tích, số hóa 2D-3D đối với một số di tích tiêu biểu. Hệ thống cơ sở dữ liệu này đã được công bố trên website Ngân hàng dữ liệu số về di tích và công tác bảo tồn di tích với dữ liệu của 4.000 di tích, thu hút đông đảo người xem.

Điều đáng mừng là hiện nay tại nhiều địa phương đã bước đầu triển khai thực hiện các giải pháp chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số hóa 3D trong việc quản lý, khai thác, quảng bá và phát huy giá trị di sản. Tiêu biểu như Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế triển khai ứng dụng (app) hướng dẫn tham quan "Di tích Huế"; ứng dụng công nghệ trải nghiệm thực tế ảo VR 3D trong hoạt động tham quan tại Hoàng Thành Thăng Long…; số hóa các tài liệu Hán Nôm các văn bản, tư liệu Hán Nôm sưu tầm tại các di tích. Đây là thành tựu bước đầu, tạo cơ sở cho việc chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo tồn di tích.

Cần đồng bộ khi ứng dụng công nghệ số

Có thể nói rằng, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là công cụ hữu hiệu nhất để duy trì, gìn giữ, phát huy và nâng tầm các giá trị di sản, văn hóa truyền thống, đẩy mạnh phát triển du lịch, dịch vụ, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Cầu nối phát huy giá trị di sản (Bài 2) ảnh 3Cán bộ Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn làm công tác số hóa. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Cục trưởng Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Lê Thị Thu Hiền cho biết, nhận thức của các cấp về số hóa, chuyển đổi số xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đã được nâng cao. Việc chuyển đổi số trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản đã đạt nhiều kết quả. Tuy vậy, việc chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, di sản vẫn còn nhiều khó khăn.

Đó là việc xây dựng kho dữ liệu chưa thường xuyên, liên tục và bền vững; chưa tính đến việc liên kết dữ liệu để cùng khai thác đáp ứng được nhu cầu phát triển. Phần mềm dùng chung chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Cơ sở dữ liệu được xây dựng và vận hành độc lập với ứng dụng công nghệ khác nhau, quản lý, khai thác riêng, chưa có liên kết và phân cấp quản lý, khai thác. Nguyên nhân là do nguồn nhân lực còn mỏng chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn lực đầu tư quá ít, không đảm bảo sự đồng bộ…

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam là một trong những đơn vị tiên phong trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể thông qua thu thập tài liệu văn bản, ghi hình, ghi âm các tư liệu hình ảnh động về loại hình văn hóa bằng thiết bị camera chuyên dụng, thiết bị ghi âm từ những thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Hàng nghìn dự án sưu tầm, bảo tồn về các hình thức diễn xướng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công, nghi lễ vòng đời người của các dân tộc Việt Nam đang được lưu trữ tại Viện.

Muốn phát huy và khai thác hiệu quả nguồn dữ liệu quý giá đó cần phải số hóa (chuyển đổi dữ liệu thành các file số có thể đọc được từ máy vi tính). Với khả năng ứng dụng công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số quốc gia, kho dữ liệu di sản văn hóa của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam có thể trở thành một sản phẩm chủ lực của ngành trong thời gian tới.

Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành sản phẩm thực tế, Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam cho rằng cần thực hiện đồng bộ 10 giải pháp cơ bản. Trong đó, nguồn nhân lực là yếu tố đầu tiên và quan trọng. Theo đó, hoạt động đào tạo, nâng cao nhận thức, chuyển đổi tư duy về chuyển đổi số của cán bộ nghiên cứu, kỹ thuật viên của Viện phải được thực hiện trước, tập trung kiến thức về cơ sở dữ liệu lớn, kỹ thuật, công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như cách thức phát huy, bảo vệ bản quyền đối với những tài liệu số hóa của Viện.

Cầu nối phát huy giá trị di sản (Bài 2) ảnh 4Các hiện vật đã được đăng tải giới thiệu trên trang web của Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn tại mục “Thư viện hiện vật”. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Tiếp đó là việc nâng cấp, bổ sung kho dữ liệu di sản văn hóa của Viện, kết nối với các kho dữ liệu di sản khác trong phạm vi cả nước và tham gia vào hệ thống thông tin di sản quốc tế. Để làm được như vậy, Viện cần có chiến lược sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể, biến thành kho dữ liệu số, có khả năng kết nối và mang tính tương tác. Hệ thống máy móc, trang thiết bị, kết nối internet, bảo vệ bản quyền… cũng phải nhằm bảo đảm quyền lợi của kho dữ liệu trên môi trường số.

Bên cạnh đó, để phát huy giá trị kho dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể cần đến ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR). Công nghệ này giúp nâng cao giáo dục, bảo tồn di sản, truyền cảm hứng học hỏi, chia sẻ ý tưởng, tri thức về di sản văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể. Do đó, Trung tâm dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể của Viện cần được trang bị công nghệ, đặc biệt là nhân lực để vận hành các dự án ứng dụng công nghệ thực tế ảo…

Trung tâm Dữ liệu di sản văn hóa nói riêng và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam nói chung cần sự hợp tác, liên kết chặt chẽ với các đơn vị quản lý di tích, bảo tàng, đơn vị có các dữ liệu di sản khác, góp phần tạo thành một hệ thống đồng bộ của chuyển đổi số đối với lĩnh vực di sản.

Thanh Giang

TTXVN

Có thể bạn quan tâm