Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Thái đen

Lễ hội Kin Pang có nhiều nghi lễ, trò diễn, điệu múa, phản ánh quan niệm tín ngưỡng, tư duy sáng tạo của người Thái đen ở Than Uyên. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN
Lễ hội Kin Pang có nhiều nghi lễ, trò diễn, điệu múa, phản ánh quan niệm tín ngưỡng, tư duy sáng tạo của người Thái đen ở Than Uyên. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu hiện có 10 dân tộc sinh sống, trong đó, người Thái chiếm đa số với hơn 70%. Đồng bào dân tộc Thái đen huyện Than Uyên có nhiều phong tục, tập quán độc đáo. Cùng với ẩm thực, trang phục truyền thống hay những điệu khắp làm xao xuyến lòng người, Lễ hội Kin Pang là nét văn hóa đặc sắc không thể thiếu trong đời sống của người Thái đen với nhiều hoạt động phong phú được bà con gìn giữ từ nhiều đời nay.

Độc đáo Lễ hội Kin Pang

Người Thái đen Than Uyên cư trú tập trung ở các xã Pha Mu, Mường Mít, Khoen On, Ta Gia, Tà Hừa và rải rác ở một số xã khác của huyện. Văn hóa truyền thống của người Thái đen nổi bật là khăn piêu, tục tằng cẩu và một số nét đặc trưng thể hiện qua kiến trúc nhà cửa, ẩm thực, tín ngưỡng và lễ hội dân gian.

Tháng 3 về, dòng sông Nậm Mu nước chảy hiền hòa, cánh đồng Mường Than một màu xanh mướt của lúa, trên cánh rừng những bông hoa bó mạ nở vàng rực, cũng là lúc người Thái đen ở Than Uyên tổ chức Lễ hội Kin Pang. Đây là một lễ hội độc đáo, đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của cộng đồng. Người được cúng chữa khỏi bệnh sẽ trở thành con nuôi của thầy mo, tiếng Thái gọi là "lụ liệng".

Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Thái đen ảnh 1Lễ hội Kin Pang có nhiều nghi lễ, trò diễn, điệu múa, phản ánh quan niệm tín ngưỡng, tư duy sáng tạo của người Thái đen ở Than Uyên. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Cứ vài năm một lần, thầy mo tổ chức Lễ hội Kin Pang để tạ ơn thần linh và âm binh đã phù trợ con người có được cuộc sống bình yên, khỏe mạnh. Lễ hội có nhiều nghi lễ, trò diễn, điệu múa thiêng, phản ánh những quan niệm tín ngưỡng và tư duy sáng tạo phong phú của người Thái đen.

Lễ hội Kin Pang gồm hai phần: lễ và hội. Phần lễ thực hiện các nghi lễ cúng Then nhằm cầu mong thần Then phù hộ cho dân bản khỏe mạnh, mùa màng tốt tươi, bản làng no ấm. Phần hội, đồng bào Thái đen cùng nhau vui chơi với điệu múa "Tăng pẳng", trò diễn "Ma cang cói", "Thuồng luồng uống nước", "Voi uống nước", "Người Xá hút thuốc", "Ma cà rồng ăn ếch"...

Để chuẩn bị cho Lễ hội Kin Pang, ngoài rượu, thịt và các sản vật dâng cúng, thầy mo và các con nuôi phải dựng cây vũ trụ, tiếng Thái gọi là "Sặng pang". "Sặng pang" được làm bằng các vật liệu sẵn có trong thiên nhiên như cây tre, cây chuối và các loại hoa rừng như "bó mạ", "bó mạy". Trong lễ Kin Pang, thầy mo sửa soạn nhiều mâm lễ để cúng tổ nghề, âm binh, linh hồn của các quan tạo mường, tạo bản và thần linh cai quản núi, rừng, sông, suối.

Mở màn cho Lễ hội Kin Pang là nghi lễ "Thỉnh đoàn quân mo". Tiếp theo là nghi lễ "Thỉnh thần linh bản mường", thầy mo kính cẩn thỉnh linh hồn các kiếp đời Phìa, quan tạo mường, tạo bản về thụ hưởng lễ vật và phù hộ cho dân bản, dân mường. Khi âm binh và các quan tạo đã về đông đủ, thầy mo hành lễ "điểm mâm".

Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Thái đen ảnh 2Trò diễn trâu cày ruộng được thực hiện bởi những người đàn ông khỏe mạnh. Họ sử dụng thân cây chuối, giả làm trâu thực hiện động tác cày bừa. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Sau đó, thầy mo hát "dâng rượu cần" rồi cùng các "xảo chìa pô" (những cô gái chưa chồng, xinh đẹp) múa quanh cây hoa để hầu rượu thần linh. Thầy mo múa quạt đi trước, các cô gái múa khăn theo sau. Tiếp đến là nghi lễ "Điểm con nuôi". Trước đàn lễ, thầy mo điểm danh các con nuôi và xin thần linh phù hộ cho họ có sức khỏe dồi dào, cuộc sống bình yên, no đủ.

Sau khi xong phần lễ, thầy mo chuyển sang phần hội với các điệu múa, trò diễn tạo nên tính hấp dẫn, vui nhộn và độc đáo cho lễ hội. Mở đầu là điệu múa "Tăng pẳng". Các con nuôi mỗi người một ống tre đứng thành hai hàng, mặt đối mặt, cùng nhau nện ống tre xuống sàn gỗ tạo âm thanh vang vọng giữa đại ngàn. Âm thanh ấy được người Thái coi là tiếng sấm, gọi mưa về tưới mát nhân gian, cho cây cối tốt tươi, nhà nhà no đủ.

Thầy mo còn tái hiện lại các trò diễn chữa bệnh mắt mù, điếc tai, tâm thần... Những hoạt cảnh chữa bệnh tạo không khí vui nhộn, xóa tan sự lo âu về bệnh tật của những người tham dự. Khi bệnh tật được xua tan, con người trở về cuộc sống đời thường. Trò diễn trâu cày ruộng được thực hiện bởi những người đàn ông, họ sử dụng những thân cây chuối giả làm trâu thực hiện các động tác cày bừa.

Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Thái đen ảnh 3Thầy mo hát những lời khẩn cầu mời gọi các thần linh xuống trần, ban phát sức khỏe, chữa bệnh cho bà con bản mường. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Kết thúc phần hội là điệu múa sinh thực khí, tiếng Thái gọi là "Xe quây luông". Sau các điệu múa và trò diễn, thầy mo cùng các con nuôi dùng vải thổ cẩm quấn quanh cây "sặng pang" và hạ cây "sặng pang" xuống.
Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc


Ngày nay, trước sự phát triển của xã hội và tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiều nét văn hóa của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Than Uyên đang có nguy cơ mai một. Vì vậy, huyện luôn nỗ lực giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc nhằm tạo đà cho du lịch văn hóa phát triển trên địa bàn.

Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Thái đen ảnh 4Lễ hội Kin Pang có nhiều nghi lễ, trò diễn, điệu múa, phản ánh quan niệm tín ngưỡng, tư duy sáng tạo của người Thái đen ở Than Uyên. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Ông Lò Văn Hương, Chủ tịch UBND huyện Than Uyên cho biết: Lễ hội Kin Pang không chỉ mang giá trị về mặt tâm linh, tín ngưỡng mà còn ẩn chứa nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc của dân tộc Thái đen như: nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật trang trí, sân khấu dân gian, văn hóa nghệ thuật cổ truyền. Việc phục dựng Lễ hội Kin Pang nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của người Thái đen, giúp đồng bào lưu giữ các nghi thức thiêng liêng trong nghi lễ cúng Then và giữ gìn, bảo tồn các điệu múa, trò chơi dân gian.

Công tác bảo tồn bản sắc văn hóa nói chung là một trong những nội dung quan trọng đã được Đại hội Đảng bộ huyện Than Uyên ban hành thành nghị quyết về "Phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp các dân tộc gắn với du lịch cộng đồng giai đoạn 2020-2025". Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là huyện triển khai nhiều hoạt động bảo tồn văn hóa ở các thôn, bản và lấy người dân làm nòng cốt. Trong đó, huyện tập trung thành lập câu lạc bộ bảo tồn văn hóa dân gian dân tộc Mông và dân tộc Thái.

Đồng thời, huyện phục dựng các lễ hội truyền thống như: Lùng Tùng, Xòe Chiêng, Hạn Khuống, đua thuyền đuôi én…; khuyến khích các bản, khu dân cư thành lập, duy trì hoạt động thường xuyên của 129 đội văn nghệ quần chúng.

Bảo tồn văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân tộc Thái đen ảnh 5Buộc chỉ cổ tay mang lại điều may mắn, hạnh phúc trong một năm. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Thời gian tới, Than Uyên tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc. Huyện ưu tiên bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch; đổi mới nâng cao chất lượng tổ chức các sự kiện văn hóa, du lịch; phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp, bài trừ hủ tục lạc hậu ở các điểm du lịch cộng đồng. Trong đó, huyện sẽ tổ chức tốt các hoạt động, giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa, tiềm năng, thế mạnh của địa phương, sản phẩm du lịch văn hóa.

Việt Hoàng - Đinh Thùy

(TTXVN)
Dân tộc Thái Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Có thể bạn quan tâm